|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 618/2024/DS-PT Ngày 13-12-2024 V/v yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tài. |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Thanh. |
| Bà Đinh Thị Mộng Tuyết. |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 432/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024, về việc: yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 239/2024/DS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 467/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị D, sinh năm 1966; địa chỉ: số A đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Võ Thị D: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: 6 đường N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, đại diện theo ủy quyền, (có mặt).
- Bị đơn: Bà Phan Thị T1, sinh năm 1953; địa chỉ: số D đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Phan Thị T1: Ông Lê Huỳnh Đ, sinh năm 1996; bà Vũ Thị Thu H, sinh năm 2000; cùng địa chỉ liên hệ: số F, đường số A, Trung tâm hành chính D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09/7/2024); ông Đ vắng mặt, bà H có mặt.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Văn T, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị Hồng X, sinh năm 1984; cùng địa chỉ: số F đường N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Nguyễn Anh T2, sinh năm 1971; địa chỉ: số G khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn bà Phan Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Võ Thị D trình bày: Bà Võ Thị D là chủ quản lý, sử dụng thửa đất có diện tích 154,8m² tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện D (nay là khu phố Đ, phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương thuộc thửa đất số 196a, số tờ bản đồ 9, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 368926 số vào sổ 3593 QSDĐ/CN.TĐH được Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D) cấp ngày 8/10/2001.
Vào ngày 04 tháng 3 năm 2023, bà D cùng chồng là ông Nguyễn Anh T2 có chuyển nhượng cho ông Hồ Văn T thửa đất trên thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo số công chứng 002137, quyển số 03/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C2.
Trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì ở phía Bắc của thửa đất có một con đường mòn có chiều rộng 2m, con đường này được thể hiện rõ trên phần trích vẽ khu đất của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà D. Sau khi vợ chồng bà D chuyển nhượng cho ông T thì xảy ra tranh chấp phần con đường mòn có chiều dài 2m này với bà Phan Thị T1. Cụ thể là bà T1 đã xây hàng rào bằng trụ bê tông và kẽm B40 rào chắn ngang qua đường mòn này, không cho bà D đi chung để đi ra đường công cộng. Bà T1 cho rằng đây là phần đất có nguồn gốc thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T1. Tuy nhiên, thực tế thì con đường mòn này đã có từ lâu, năm 2001 con đường này đã được thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D) cấp ngày 08/10/2001 cho bà D. Bà D đã nhiều lần gặp bà T1 để thương lượng nhưng không thành công.
Ngày 10/10/2023, bà D làm đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai gửi đến Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương yêu cầu tiến hành hoà giải, giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của bà D. Ngày 01/12/2023, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương đã tổ chức phiên hòa giải để giải quyết tranh chấp lối đi chung giữa bà D và bà T1. Tuy nhiên, phiên hòa giải không thành nên việc tranh chấp giữa bà D và bà T1 vẫn chưa được giải quyết. Do đó, bà D đề nghị Tòa án giải quyết: yêu cầu Tòa án công nhận đường mòn ngang 02 mét, dài khoảng 36,38 mét, tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là lối đi chung.
3
Yêu cầu bà Phan Thị T1 tháo dỡ, di dời tài sản trên đất gồm trụ bê tông và hàng rào B40 dài khoảng 36,38m để trả lại con đường mòn có chiều ngang 02m, toạ lạc tại ấp Đ, xã T, huyện D (nay là khu phố Đ, phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương làm lối đi chung”
Qua xem xét thẩm định tại chỗ và mảnh trích lục đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D cung cấp cho Tòa án thể hiện đường đi (ký hiệu B) có chiều dài 36,47m, chiều rộng 02m. Tuy nhiên, phần đường đi bà D yêu cầu Tòa án công nhận theo mảnh trích lục chỉ có chiều dài là 22,3m, có chiều rộng là 02m nên tại bản tự khai ngày 27/6/2024, người đại diện hợp pháp của bà D xác định lại yêu cầu khởi kiện của bà D như sau:
Yêu cầu Tòa án công nhận lối đi có chiều dài là 22,3m, có chiều rộng là 02m, tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là lối đi chung và buộc bà Phan Thị T1 tháo dỡ, di dời tài sản trên đất gồm trụ bê tông, hàng rào B40 để trả lại con đường đi chung.
Đối với phần diện tích còn lại tiếp giáp với đất của ông Hoàng Văn H1 và ông Dương Minh T3 thì bà D không có yêu cầu gì do ông H1 và ông T3 đã có đường đi khác để đi ra đường công cộng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định lại vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tại đơn khởi kiện ngày 08/12/2023 về việc buộc bà T1 tháo dỡ các tài sản là trụ cổng, tường rào gạch + lưới B40 + trụ bê tông cùng các cây trồng trên đất để trả lại hiện trạng đường đi chung, đề nghị bà D chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật là lấn chiếm đường đi chung. Nguyên đơn xin rút phần yêu cầu khởi kiện về việc công nhận đường đi có diện tích 75,4m² (theo đo đạc thực tế - ký hiệu B trên mảnh trích lục) là đường đi chung, vì theo hồ sơ thể hiện đường này đã được xác lập trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Văn H2 (chồng bà T1), ông Trần Văn X1 và bà Võ Thị D từ khi những người này được cấp giấy chứng nhận.
- Bị đơn bà Phan Thị T1 trình bày: phần diện tích đất bao gồm cả phần diện tích bà D đang tranh chấp là của bác ruột của ông Trần Văn H2 (chồng của bà T1) tên Bùi Văn Đ1 cho hai vợ chồng bà từ năm 1982, đến năm 1996, Nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại trà nên gia đình bà, đại diện là ông Trần Văn H2 làm thủ tục đăng ký kê khai, ngày 26/8/1996 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 925QSDĐ/CQTĐH. Năm 1998, ông H2 chết bà T1 làm thủ tục sang tên bà và ngày 29/11/1999 Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương được cập nhật biến động vào trang 4 của giấy chứng nhận. Từ khi nhận đất, vợ chồng bà xây dựng nhà ở và trồng hoa màu, đến năm 2004 thì xảy ra tranh chấp giữa nhà bà với ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị V (là chủ đất có một cạnh giáp phía Đông thửa đất của vợ chồng bà). Ông C, bà V khởi kiện bà tại Tòa án vì cho rằng bà lấn chiếm khoảng 60m² đất của ông C, bà V. Sau đó Tòa án có tiến hành xác minh, đo đạc và kết quả giải quyết là bà không lấn đất của gia đình ông C, bà V. Trong phần Quyết định của Bản án số 80/DSST ngày 29/9/2004 của Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương đã quyết định:
4
Bà Phan Thị T1 tiếp tục sử dụng phần đất có số đo tứ cận như sau:
Đông: giáp đất ông Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị V 31m35.
Tây: giáp đường hẻm 31m60.
Nam: giáp đất ông Trần Văn X1 36m50.
Bắc: giáp đất bà Trần Thị C1 34m21.
2. Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện D thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ bà Phan Thị T1 số 925 ngày 26/8/1996 để điều chỉnh theo thực tế được xác định tại Điều 1 của Quyết định này. Sau khi Bản án số 80 có hiệu lực, bà chưa kịp điều chỉnh giấy chứng nhận thì năm 2006 bà Trần Thị C1 lại khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà. Bà C1 cũng cho rằng bà T1 lấn đất của nhà bà C1. Ngày 13/02/2006, Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương ban hành Bản án quyết định bác yêu cầu khởi kiện của bà C1. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bà C1 có sang nhà bà T1 thương lượng để cho bà C1 xây hàng rào làm ranh giới xác định đất giữa hai bên, bà đồng ý. Khi bà C1 xây dựng hàng rào xong, bà tiến hành làm thủ tục cấp đổi sổ mới nhưng cán bộ địa chính xã nói rằng hiện trạng ranh giới đất giữa nhà bà với nhà bà C1 đã thay đổi vì có cái hàng rào mới xây của nhà bà C1 nên không làm thủ tục cấp sổ được. Thấy khó khăn với lại bản thân bà suy nghĩ đất của mình sử dụng ổn định nên chưa đổi sổ cũng không sao.
Khi cấp giấy chứng nhận đất cho vợ chồng bà, theo như cán bộ xã giải thích là không đo vẽ thực tế mà cấp đại trà theo bản đồ không ảnh nên sơ đồ thửa đất không thể hiện số đo chiều dài các cạnh. Trên sổ đất của bà có thể hiện con đường nhưng thực tế từ lúc gia đình bà được cho đất, quản lý và sử dụng đến nay không có con đường nào và cũng không có hộ dân nào đi qua con đường này. Cạnh của con đường trên sổ này ngoài thực tế là giáp đất của ông Trần Văn X1. Năm 2004, sau khi giải quyết tranh chấp giữa bà với ông C, bà V xong, để bảo vệ đất của mình nên bà đã xây tường gạch cao khoảng 1,5m phía trên gắn lưới B40, chiều dài tường xây khoảng 20m và bà sử dụng ổn định từ năm 2004 cho đến khi bà D tranh chấp lối đi chung. Bà D là người nhận chuyển nhượng đất của ông Trần Văn X1 từ năm 2001 nhưng không tranh chấp với bà về lối đi này vì bà D có lối đi khác, lối đi này khi bà D nhận chuyển nhượng đất của ông X1, ông X1 đã trừ ra cho bà D đi, lối đi bà D đang sử dụng có chiều dài khoảng 20m, rộng khoảng 02m, đối với phần đất bà D đang tranh chấp thì bà cùng gia đình đã quản lý, sử dụng ổn định từ năm 1982 đến nay. Còn việc tranh chấp giữa bà với bà C1, giữa bà với ông C, bà V là ở cạnh khác của thửa đất, giữa bà với ông X1 từ năm 1982 đến năm 2023 không có tranh chấp. Vì vậy, bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn T: thống nhất với toàn bộ phần trình bày của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T2 trình bày: vào ngày 04/3/2023, vợ chồng ông (ông và bà Võ Thị D) có ký hợp đồng
5
chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chuyển nhượng diện tích đất 154,8m², thuộc thửa đất số 196a, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 3593QSDĐ/CN.TĐH do Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 08/10/2001 cho bà Võ Thị D, đất tọa lạc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho ông Hồ Văn T. Hợp đồng được Văn phòng C3 số 002137, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HD9GD ngày 04/3/2023. Sau khi các bên ký hợp đồng chuyển nhượng vợ chồng ông đã bàn giao đất cho ông T quản lý, sử dụng và đã nhận đủ tiền chuyển nhượng. Khi ông T làm thủ tục đăng ký sang tên thì phát hiện phần đường đi có chiều rộng 02m được thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà D đã bị bà T1 lấn chiếm sử dụng. Vì vậy, bà D đã khởi kiện tại Tòa án tranh chấp con đường đi này.
Ông thống nhất với mọi ý kiến trình bày của nguyên đơn bà D tại đơn khởi kiện và ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bà D trong quá trình tố tụng. Mọi ý kiến của người đại diện của bà D cũng là ý kiến của ông. Ông không yêu cầu Tòa án tiến hành tiếp cận lại các chứng cứ và cũng không yêu cầu hòa giải lại.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng X trình bày: vào ngày 04/3/2023, vợ chồng bà X ông Hồ Văn T có ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 154,8m², thuộc thửa đất số 196a, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 3593QSDĐ/CN.TĐH do Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 08/10/2001 cho bà Võ Thị D, đất tọa lạc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương của bà Võ Thị D, ông Nguyễn Anh T2. Hợp đồng được Văn phòng C3 số 002137, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/3/2023. Sau khi các bên ký hợp đồng chuyển nhượng vợ chồng bà đã thanh toán tiền cho bà D, ông T2, vợ chồng bà D đã bàn giao đất cho bà và ông T quản lý, sử dụng. Tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng bà nhưng vợ chồng bà thỏa thuận để ông T đứng tên nhận chuyển nhượng sau này đi làm thủ tục cho thuận tiện. Đến khi ông T làm thủ tục đăng ký sang tên thì phát hiện phần đường đi có chiều rộng 02m được thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà D đã bị bà T1 lấn chiếm sử dụng nên không thể tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Vì vậy, bà D đã khởi kiện tại Tòa án tranh chấp đường đi này.
Bà thống nhất với mọi ý kiến trình bày của nguyên đơn bà D tại đơn khởi kiện và ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bà D là ông T (chồng bà) trong quá trình tố tụng. Mọi ý kiến của ông T cũng là ý kiến của bà. Bà không yêu cầu Tòa án tiến hành tiếp cận lại các chứng cứ và cũng không yêu cầu hòa giải lại. Đề nghị Tòa án giải quyết theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị D.
Theo biên bản xác minh ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án cấp sơ thẩm tại Ủy ban nhân dân phường T có nội dung:
6
Theo bản đồ địa chính năm 1995 tiếp giáp phía Nam của thửa đất số 153, tờ bản đồ số 9 có thể hiện đường đi, tuy nhiên chiều rộng bao nhiêu cán bộ địa chính không xác định được. Theo bản đồ năm 2005 được xác lập ngày 20/7/2005 thì thửa đất số 153 tờ bản đồ số 9, tiếp giáp thửa đất số 196 tờ bản đồ số 9 không thể hiện đường đi.
Phần diện tích đất này hiện nay do bà T1 là người đang lấn chiếm sử dụng theo Thông báo số 37/TB-UBND ngày 13/3/2023 của Ủy ban nhân dân phường T.
Về quy hoạch sử dụng đất đối với phần diện tích đất 75.4m² (ký hiệu B) trên Mảnh trích lục do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D ký xác nhận ngày 02/4/2024, đề nghị Tòa án xác minh thêm tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố D để biết rõ thông tin.
Tại Văn bản số 348/UBND – TNMT của Ủy ban nhân dân thành phố D “V/v phúc đáp trường hợp trên GCN QSDĐ có đường nhưng hiện trạng không còn đường của bà Võ Thị D” ngày 27/02/2023, UBND thành phố “...đề nghị UBND phường T kiểm tra, xử lý theo nội dung Văn bản số 2250/UBND –TNMT ngày 26/10/2022 của UBND thành phố nhằm khôi phục hiện trang ban đầu của tuyến đường 2m nêu trên...”. Vậy, Ủy ban nhân dân phường T đã thực hiện Văn bản số 348/UBND-TNMT đến đâu. Đề nghị cung cấp tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có).
Sau khi nhận được Văn bản số 348/UBND-TNMT của Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương, ngày 13/3/2023 Ủy ban nhân dân phường T đã ban hành Thông báo số 37/TB-UBND về việc buộc bà Phan Thị T1 phải khôi phục lại hiện trạng đường đi 02m. Tuy nhiên, bà T1 đã làm đơn đề nghị ngừng việc khôi phục lại hiện trạng đường đi theo Thông báo số 37/TB-UBND ngày 13/3/2023; ngày 08/3/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố D đã có Văn bản số 544/UBND-KT về việc trả lời đơn kiến nghị của công dân.
Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp nội dung: căn cứ Quyết định số 3628/QĐ-UBND ngày 25/10/2007 của Ủy ban nhân dân huyện D về việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2010 của xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương thì phần diện tích 75,4m² (phần ký hiệu B) được thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính số 846-2024 do CNVPĐKĐĐ thành phố D xác lập ngày 02/4/2024 thuộc quy hoạch một phần đất ở tại nông thôn (ONT).
Căn cứ Quyết định số 1468/QĐ-UBND ngày 24/6/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thị xã D; Quyết định số 2264/QĐ-UBND ngày 14/8/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của thị xã D thì phần diện tích 75,4m² (phần ký hiệu B) được thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính số 846-2024 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D xác lập ngày 02/4/2024 thuộc quy hoạch một phần đất ở tại đô thị (ODT).
7
Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 05/01/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 thành phố D thì phần diện tích 75,4m² (phần ký hiệu B) được thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính số 846-2024 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D xác lập ngày 02/4/2024 thuộc quy hoạch một phần đất ở tại đô thị (ODT), một phần đất giao thông (DGT).
Văn bản số 2863/CNVPĐKĐĐ-KTĐĐBĐ của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D cung cấp nội dung như sau: thứ nhất, giấy chứng nhận của ông Trần Văn H2 là giấy chứng nhận đại trà chính quy chưa đăng ký biến động chuyển quyền. Căn cứ khoản 3 Điều 2, Điều 9 Quyết định 508/2000/QĐ-UB ngày 28/7/2000 của Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D) về việc ban hành quy định về trình tự thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Giấy chứng nhận của bà Võ Thị D được thực hiện căn cứ Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 7 Quyết định số 508/2000/QĐ-UB ngày 28/7/2000 của Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D) về việc ban hành quy định về trình tự thủ tục tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Do đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông, bà Trần Văn H2, cập nhật, chỉnh lý biến động (trang 4) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Phan Thị T1 và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị D là đúng quy định.
Thứ hai, về việc trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Văn H2 và bà Võ Thị D thể hiện có đường nhưng quy hoạch sử dụng đất là đất ở tại đô thị. Căn cứ quy định tại Điều 40 Luật Đất đai năm 2013 quy định Quy hoạch sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố, vì vậy phải liên hệ Ủy ban nhân dân thành phố D để được biết thông tin.
Kết quả xem xét thẩm định và định giá thể hiện: quyền sử dụng đất diện tích 75,4m², đơn giá 13.000.000 đồng/m² (vị trí đất tranh chấp thuộc đường GT, diện tích 75,4m², thuộc đất nông nghiệp). Diện tích đất này không thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào.
- Tài sản trên đất:
- + 01 tường gạch xây tô cao 0.5m (trụ bê tông, lưới B40) có đơn giá 580.000đ/ m²; diện tích: 40,24m² (dài 20,12m x cao 2m), xây năm 2005, giá trị sử dụng còn lại 15%, thành tiền: 40,24m² x 580.000 đồng x 15% = 3.500.880 đồng;
- + 01 trụ cổng kích thước (40x40x300)cm = 0.48m³ có kết cấu bê tông cốt thép gạch xây ốp đá đơn giá: 4.220.000 đồng/m; thành tiền: 0.48m³ x 4.220.000 = 2.025.600 đồng;
- + 02 cây mít 20 năm đơn giá: 1.173.700 đồng/cây; thành tiền: 20 cây x 1.173.700 đồng = 2.347.400 đồng;
- + 04 cây mai tứ quý khoảng 15 năm đơn giá: 256.000 đồng/cây; 04 cây x 256.000 đồng = 1.024.000 đồng;
8
- + 01 cây xoài hơn 03 năm đơn giá: 549.000 đồng/cây;
- + 01 cây thần kỳ hơn 08 năm đơn giá: 549.000 đồng/cây;
- + 01 cây mít thái 05 năm đơn giá: 1.173.700 đồng/cây;
- + 01 cây ổi hơn 02 năm đơn giá: 148.100 đồng/cây;
- + 01 cây mít hơn 01 năm đơn giá: 181.000 đồng/cây.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 239/2024/DS-ST ngày 29/7/2024, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị D về việc yêu cầu công nhận diện tích đất 75,4m² (ký hiệu B trên mảnh trích lục kèm theo) là đường đi chung, đất tọa lạc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị D về việc yêu cầu bị đơn bà Phan Thị T1 chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật.
- Buộc bị đơn bà Phan Thị T1 tháo dỡ:
- + 01 Tường gạch xây tô cao 0.5m + trụ bê tông + lưới B40 có chiều dài 36,47m chiều cao 2m (từ điểm số 3 đến điểm số 11 trên bản vẽ kèm theo);
- + 01 trụ cổng kích thước 40x40x300cm = 0.48m³ có kết cấu bê tông cốt thép gạch xây ốp đá (từ điểm 11 đến điểm a – trên bản vẽ kèm theo);
- + 02 cây mít 20 năm; 04 cây mai tứ quý khoảng 15 năm; 01 cây xoài hơn 03 năm; 01 cây thần kỳ hơn 08 năm; 01 cây mít thái 05 năm; 01 cây ổi hơn 02 năm; 01 cây mít hơn 01 năm và các loại cây ngắn ngày trồng trên đất.
Trả lại con đường đi chung có diện tích 75,4m² (ký hiệu B – trên mảnh trích lục, có bản vẽ kèm theo) tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30 tháng 7 năm 2024, bị đơn bà Phan Thị T1 nộp đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
9
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị T1 trong hạn luật định, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: nguyên đơn bà Võ Thị D tranh chấp với bị đơn bà Phan Thị T1 đường đi diện tích 75,4m², chiều rộng 2m, chiều dài 36,47m tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là lối đi chung và yêu cầu bà T1 tháo dỡ, di dời tài sản trên đất gồm trụ bê tông, hàng rào gạch + lưới B40 và các cây trồng trên đất.
[3] Bị đơn cho rằng phần diện tích đất 75,4m², chiều rộng 2m, chiều dài 36,47m này do gia đình bị đơn quản lý, sử dụng từ năm 1982 cho đến khi nguyên đơn tranh chấp. Khi bị đơn được tặng cho đất thì trên đất không có đường đi và cũng không có ai sử dụng để đi lại trên phần đất này. Vì vậy, bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.
[4] Tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 846-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố D, tỉnh Bình Dương ngày 02/4/2024 xác nhận thể hiện “(B): 75,4m² thuộc đường giao thông”. Phần ký hiệu B trên Mảnh trích lục ngày 02/4/2024 phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Văn H2 (bút lục 85), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Văn X1 (bút lục 40) và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Võ Thị D (bút lục 39), cụ thể: giữa thửa đất số 153, tờ bản đồ số 9 (thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 925/QSDĐ/CQ.TĐH cấp cho ông Trần Văn H2, cập nhật biến động sang tên bà Phan Thị T1 ngày 29/11/1999) với thửa đất số 196, tờ bản đồ số 9 (thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 409QSDĐ/CQ-TĐH cấp ngày 26/8/1996 cho ông Trần Văn X1) thể hiện đường mòn, sau này ông X1 tách một phần diện tích chuyển nhượng cho bà Võ Thị D, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà D có thể hiện đường đi có chiều rộng 02m.
[5] Quá trình tố tụng, bà T1 cho rằng bà T1 sử dụng ranh giới theo đúng quyết định trong Bản án số 80/DSST ngày 29/9/2004 của Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương (trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị V với bà T1), cụ thể:
“Bà Phan Thị T1 tiếp tục sử dụng phần đất có số đo tứ cận như sau:
Đông giáp đất ông Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị V 31m35.
Tây giáp đường hẻm 31m60.
10
Nam giáp đất ông Trần Văn X1 36m50.
Bắc giáp đất bà Trần Thị C1 34m21”.
[6] Tuy nhiên, tại Văn bản số 348/UBND-TNMT ngày 27/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về việc phúc đáp trường hợp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đường nhưng hiện trạng không còn đường của bà Võ Thị D đã có ý kiến như sau:
“Qua xem xét nội dung Bản án số 08/DSST ngày 01/3/2004 của Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thành phố D) mà UBND phường T đề cập trong Báo cáo chỉ giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai giữa các hộ dân, không liên quan đến việc con đường 2m hiện trạng không còn theo kiến nghị của bà D.
Đồng thời, xét hiện trạng con đường 2m nêu trên hiện nay có 1 phần đã bị bà T1 rào chắn với chiều dài 36,38m. Phần còn lại với chiều dài khoảng 29,5m được thể hiện là đường giao thông tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS30211 do Sở T5 cấp ngày 26/11/2021 cho bà Nguyễn Ngọc L, thông ra đường M”.
[7] Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành ngày 25/6/2024, có nội dung: “Theo bản đồ địa chính năm 1995 tiếp giáp phía Nam của thửa đất số 153, tờ bản đồ số 9 có thể hiện đường đi”, thông tin này cũng phù hợp với hình vẽ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Văn H2, cập nhật sang tên bà Phan Thị T1 ngày 29/11/1999. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân phường C4 cung cấp thông tin như sau: “Phần diện tích đất này hiện nay do bà T1 là người đang lấn chiếm sử dụng theo ghi nhận tại Văn bản số 2250/UBND-TNMT ngày 26/10/2022, Văn bản số 348/UBND-TNMT ngày 27/02/2023 và Thông báo số 37/TB-UBND ngày 13/3/2023 của UBND phường T”.
[8] Tại Mảnh trích lục ngày 02/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố D thì phần diện tích đất 75,4m² (ký hiệu B) thuộc đường giao thông, không thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 925QSDĐ/CQTĐH cấp ngày 26/8/1996 cho ông Trần Văn H2, điều này cũng phù hợp với nội dung của Văn bản số 2250/UBND-TNMT ngày 26/10/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về việc phúc đáp trường hợp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đường nhưng hiện trạng không còn đường của bà Võ Thị D là do “...phần đường mòn 2m thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà D, đã bị bà T1 là chủ sử dụng đất đối diện xây dựng tường rào từ trước năm 2005. Phần đường thể hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà D, bà T1 đã được thiết lập quản lý làm đường đi công cộng kể từ thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1996”. Do đó, bà Phan Thị T1 cho rằng phần diện tích đất 75,4m² thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà T1 là không có căn cứ.
[9] Tại Văn bản số 2250/UBND-TNMT ngày 26/10/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương cũng xác định “Việc bà T1 sử dụng đường đi để xây tường rào chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép”, tại
11
Thông báo số 37/TB-UBND ngày 13/3/2023 của Ủy ban nhân dân phường T (căn cứ vào Công văn 348/UBND-TNMT ngày 27/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố D) đã “yêu cầu bà Phan Thị T1 khôi phục lại hiện trạng ban đầu của con đường đi có chiều rộng 02m, chiều dài khoảng 36,38m và phải tháo dỡ cổng rào, hàng rào gạch, cây trồng, vật kiến trúc, có liên quan trên phần đường đi 02m mà bà T1 đang lấn chiếm, sử dụng làm tài sản riêng”.
[10] Từ những phân tích và căn cứ vào các tài liệu là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 925/QSDĐ/CQ.TĐH cấp ngày 26/8/1996 cho ông Trần Văn H2, cập nhật biến động sang tên bà Phan Thị T1 ngày 29/11/1999 (bút lục 85), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 409QSDĐ/CQ-TĐH cấp ngày 26/8/1996 cho ông Trần Văn X1 (bút lục 40) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 3593 QSDĐ/CN.TĐH cấp ngày 8/10/2001 cho bà Võ Thị D, có cơ sở xác định đường đi diện tích 75,4m² (theo đo đạc thực tế - ký hiệu B trên mảnh trích lục) là đường đi chung đang bị bà Phan Thị T1 lấn chiếm sử dụng. Tại đoạn 3 khoản 1 và khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự quy định: “Không được lấn chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung”. “Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định”. Như vậy, bà T1 lấn chiếm đường đi chung để xây tường rào, xây trụ cổng và trồng cây đã vi phạm các quy định pháp luật nêu trên, do đó Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu của bà D buộc bà T1 chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật cản trở việc đi lại của nguyên đơn và buộc bà Phan Thị T1 phải tháo dỡ các tài sản là trụ cổng, tường rào gạch + lưới B40 + trụ bê tông cùng các cây trồng trên đất để trả lại hiện trạng đường đi chung mà bà T1 đang lấn chiếm, sử dụng là đúng quy định của pháp luật.
[11] Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không có tài liệu, chứng cứ gì khác làm thay đổi nội dung vụ án. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T1.
[12] Án phí phúc thẩm: Bà Phan Thị T4 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bà T1.
[13] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 48, Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị T1.
12
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 239/2024/DS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Án phí phúc thẩm: Bà Phan Thị T1 đã được miễn.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tài |
Bản án số 618/2024/DS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật
- Số bản án: 618/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
