Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 618/2024/DS-PT

Ngày: 05/12/2024

V/v “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
  • - Các Thẩm phán:Ông Đinh Chí TâmBà Nguyễn Thị Vĩnh
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.

Ngày 05/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 402/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 78/2024/DS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 603/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Lương T, sinh năm 1977;
  • Địa chỉ: Số A, đường T, tổ C, khóm D, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Ngô Trọng H – Công ty luật TNHH luật sư H và cộng sự.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Đồng N, sinh năm 1986.
  • Địa chỉ: Số nhà A, đường N, khóm C, Phường D, thành phố C, Tỉnh Đồng Tháp.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1980.
  1. Địa chỉ: Số A, đường T, tổ C, khóm D, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà X là ông Nguyễn Lương T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A, đường T, tổ C, khóm D, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Bà Võ Thị L, sinh năm 1989

    Địa chỉ: Số nhà A, đường N, khóm C, Phường D, thành phố C, Tỉnh Đồng Tháp.

  3. Nguyễn Thị Hồng Â, sinh năm 2011;

    Địa chỉ: Số nhà A, đường N, khóm C, Phường D, thành phố C, Tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện của Nguyễn Thị Hồng Â: Ông Nguyễn Đồng N, sinh năm 1984 và bà Võ Thị L, sinh năm 1989 (cha mẹ ruột).

  4. Nguyễn Trọng N1, sinh năm 2013;

    Địa chỉ: Số nhà A, đường N, khóm C, Phường D, thành phố C, Tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện của Nguyễn Trọng N1: Ông Nguyễn Đồng N, sinh năm 1984 và bà Võ Thị L, sinh năm 1989 (cha mẹ ruột).

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Lương T là nguyên đơn của vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Ông Nguyễn Lương T trình bày:

Ngày 20 tháng 4 năm 2020, ông T nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Đ, sinh năm 1975, ngụ Xã H, TP C, Đồng Tháp diện tích đất 66,5 m² (chiều ngang 4,5 mét; chiều dài cạnh 14,21 mét và cạnh 14,78 mét), tại thửa đất số 105, tờ bản đồ số 15, loại đất ở đô thị, tại Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Khi bàn giao đất, ông T và ông Đ có tiến hành đo đạc, đóng trụ đá và lập biên bản bàn giao. Ông T, bà X được cấp quyền sử dụng đất diện tích 66,5 m², tại thửa đất số 105, tờ bản đồ số 15 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CV 451869, số vào sổ cấp GCN: CS02185, ngày 07/5/2020. Đến ngày 20 tháng 02 năm 2023, ông T phát hiện diện tích đất chiều ngang chỉ còn 4,45m do ông Nguyễn Đồng N là người sử dụng thửa đất số 109 liền kề đang xây dựng công trình nhà ở lấn sang mất 5cm. Cạnh lấn sang là cạnh có chiều dài 14,78m thuộc thửa đất 105 của ông T. Khi xây nhà ông Nguyễn Đồng N đã tự ý nhỗ trụ đá (trụ phía trước và sau) do ông T đã đóng trước đây mà không báo cho ông T hay. Hiện ông T là người đang quản lý và sử dụng. Nay yêu cầu ông Nguyễn Đồng N trả lại đất đã lấn chiếm theo đo đạc thực tế tại thửa 105, tờ bản đồ số 15, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp và cấm lại 02 trụ đá xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông T và ông N.

Buộc ông Nguyễn Đồng N trả lại đất đã lấn chiếm trong các mốc A, B, C, D, A. Xác định ranh đất giữa ông T và ông N từ mốc D đến mốc A là 14,78 mét và ông N phải cấm lại 02 trụ đá (tại mốc D và tại mốc A), tại thửa 105, tờ bản đồ số 15, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và sơ đồ đo đạc ngày 23/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).

- Ông Nguyễn Đồng N trình bày ý kiến:

Ngày 19/11/2020, ông N nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Đ, sinh năm 1975 và vợ là Lại Thị Bích P, sinh năm 1973, tổ C, ấp H, xã H, thành phố C, Đồng Tháp, diện tích đất 66,5 m² (chiều ngang 4,5 mét, chiều dài cạnh 14,78 mét, cạnh 14,76 mét (không biết tên chủ sử dụng đất), tại thửa đất số 109, tờ bản đồ số 15, tại Phường D, TP ., tỉnh Đồng Tháp. Ông N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DL 754142, số vào sổ cấp GCN: CH03505, ngày 20/6/2023. Khi mua đất hai bên có đo đạc và có lập biên bản bàn giao đất ngoài thực địa theo trụ đá có sẵn trụ đá do ông Đ trồng. Năm 2023, ông N xây cất nhà kiên cố 1 trệt, 1 lầu đúng diện tích đất, ranh đất và vị trí đất. Nay không đồng ý tháo dỡ nhà trả đất, nếu có lấn đất thì đồng ý trả giá trị theo giá hội đồng định giá.

Xác định ranh đất từ mốc C đến mốc B (theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và sơ đồ đo đạc ngày 23/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).

- Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có văn bản trình bày ý kiến nộp cho Tòa án.

* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Lương T xác định ranh đất từ D đến mốc A là 14,78 mét, tọa lạc khóm C, Phường D, thành phố C, Tỉnh Đồng Tháp.

Ranh đất thửa 109 (của ông N) và thửa 105 (của ông T, bà X), tờ bản đồ số 15 như sau : Nối đoạn thẳng từ mốc C đến mốc B là 14,78 mét làm ranh đất chung, tại khóm C, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Ranh đất được xác lập theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất theo qui định pháp luật. Tài sản của bên nào vi phạm qua ranh đất phải tự tháo dỡ, di dời về phần đất của mỗi bên được quyền sử dụng.

(kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và sơ đồ đo đạc ngày 23/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Lương T phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng. Tiền án phí trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu lệ phí, án phí tòa án số 0000179, ngày 15/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Về chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá) số tiền 6.681.370 đồng ông Nguyễn Lương Trực C (đã nộp và chi xong).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

  • - Ngày 04/7/2024, ông Nguyễn Lương T kháng cáo bản án sơ thẩm, ông đề nghị tòa Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, buộc ông Nguyễn Đồng N trả lại phần đất lấn chiếm là 0,74m² cho ông, vì ông N đã lấn chiếm phần đất của ông một cách bất hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

  • + Ông Nguyễn Lương T vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Lương T là không có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Lương T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Nguyễn Lương T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đồng N trả lại đất đã lấn chiếm trong các mốc A, B, C, D, A. Xác định ranh đất giữa ông T và ông N từ mốc D đến mốc A là 14,78 mét và ông N phải cấm lại 02 trụ đá (tại mốc D và tại mốc A), tại thửa 105, tờ bản đồ số 15, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và sơ đồ đo đạc ngày 23/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).

Nguồn gốc thửa đất số 105, tờ bản đồ số 15 của ông T, bà X là nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Đ và bà Lại Thị Bích P ngày 20/4/2020; diện tích đất chuyển nhượng là 66,5m²; kích thước: ngang 4,5 mét, dài cạnh giáp thửa 109 là 14,78 mét, cạnh dài giáp thửa 101 là 14,21 mét. Ông T, bà X được cấp quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CV 451869, số vào sổ cấp GCN: CS02185, ngày 07/5/2020.

Nguồn gốc thửa đất số 109, tờ bản đồ số 15 của ông Nguyễn Đồng N là do nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Đ và bà Lại Thị Bích P ngày 19/11/2020; diện tích đất chuyển nhượng là 66,5m²; kích thước: ngang 4,5 mét, dài cạnh giáp thửa 105 là 14,78 mét, giáp thửa 112 là cạnh 14,76 mét. Ông N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DL 754142, số vào sổ cấp GCN: CH03505, ngày 20/6/2023.

Theo các tài liệu chứng cứ được thu thập thể hiện khi chuyển nhượng đất thì bên chuyển nhượng (ông Đ) và bên nhận chuyển nhượng (ông T) có lập biên bản bàn giao nhà và đất ngoài thực địa, tuy nhiên, biên bản này chỉ do ông Đ và ông T tự lập, tự ký tên với nhau, không có các chủ sử dụng đất liền kề chứng kiến ký tên xác định ranh đất và cũng không có cơ quan có thẩm quyền nào thực hiện hay chứng kiến, ký tên, đóng dấu vào biên bản. Trong khi, thửa đất số 109, tờ bản đồ số 15 của ông N thì khi nhận chuyển nhượng hai bên chuyển nhượng ông Đ và ông N có tiến hành đo đạc thực tế, bàn giao đất ngoài thực địa theo các trụ đá có sẵn, các trụ đá này do ông Đ trồng.

Ngoài ra, hiện nay, thửa đất của ông T, bà X chưa xây dựng (đất trống), còn đất của ông N thì ông N đã xây dựng nhà kiên cố 1 trệt, 1 lầu vào năm 2023.

Mặt khác, theo Công văn số 1641/CNVPĐKĐĐ-KTĐC ngày 11/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, xác định:

“Diện tích đất trong phạm vi các mốc 4, 1, A, D, 4 tương ứng đất của thửa 109, tờ bản đồ số 15 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đồng N vào ngày 20/6/2023;

“Diện tích đất trong phạm vi các mốc D, A, B, C, D tương ứng đất của thửa 109, tờ bản đồ số 15 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đồng N vào ngày 20/6/2023;

“Diện tích đất trong phạm vi các mốc C, B, 2, 3, C tương ứng đất của thửa 105, tờ bản đồ số 15 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Lương T và bà Nguyễn Thị Kim X vào ngày 07/5/2020;

Như vậy, ông N đã xây nhà (01 trệt, 01 lầu) trong phạm vi các mốc 4-1-A-B-C-D-4. Đối chiếu với công văn nêu trên của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thì ông N đã sử dụng và xây dựng nhà đúng ranh, đúng vị trí đất và đủ diện tích của ông N. Nên việc ông T xác định ranh đất với ông N tại mốc A (cách B 0,05m) và mốc D (mốc D cách mốc C 0,02m), tức xác định ranh đất là từ mốc D đến mốc A là không có cơ sở. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông T là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Lương T cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2] Đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Lương T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên ông Nguyễn Lương T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 175 của Luật Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95, Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  • - Không Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Lương T.
  • - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 03/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
  • - Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Lương T xác định ranh đất từ D đến mốc A là 14,78 mét, tọa lạc khóm C, Phường D, thành phố C, Tỉnh Đồng Tháp.

Ranh đất thửa 109 (của ông Nguyễn Đồng N) và thửa 105 (của ông Nguyễn Lương T, bà Nguyễn Thị Kim X), cùng tờ bản đồ số 15 như sau: Nối đoạn thẳng từ mốc C đến mốc B là 14,78 mét làm ranh đất chung; tại khóm C, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Ranh đất được xác lập theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất theo qui định pháp luật. Tài sản của bên nào vi phạm qua ranh đất phải tự tháo dỡ, di dời về phần đất của mỗi bên được quyền sử dụng.

(Kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và Sơ đồ đo đạc ngày 23/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).

  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Lương T phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng. Tiền án phí trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu lệ phí, án phí tòa án số 0000179, ngày 15/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Về chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá) số tiền 6.681.370 đồng ông Nguyễn Lương Trực C (đã nộp và chi xong).
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Lương T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đ mà ông đã nộp theo biên lai số 0012468 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. (đã nộp xong)
  • - Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV & THA Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND TP. Cao Lãnh;
  • - Chi cục THADS TP. Cao Lãnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA,TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 618/2024/DS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 618/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Lương T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A, đường T, tổ C, khóm D, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Ngô Trọng H – Công ty luật TNHH luật sư H và cộng sự. - Bị đơn: Ông Nguyễn Đồng N, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số nhà A, đường N, khóm C, Phường D, thành phố C, Tỉnh Đồng Tháp.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger