TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 618/2024/DS-ST;
Ngày: 10/9/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Bình - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà lê Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 643/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1020/2024/QÐST- DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1341/2024/QÐST- DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam);
Địa chỉ: I đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Ông Jin S – Chủ tịch Hội đồng thành viên;
Đại diện theo ủy quyền: Công ty L (Công ty L1), đại diện pháp luật: Ông Bà Nguyễn Thị Xuân M, Giám đốc Công ty L1; Người được uỷ quyền: Bà Lâm Thị Thùy D, chuyên viên pháp lý Công ty L1; Địa chỉ liên lạc: Lầu F - B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Từ Thị Mỹ N, sinh năm 1996;
Địa chỉ: 3 Khu phố A (Tổ B, Khu phố B cũ), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 13/7/2023, cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, người được ủy quyền của nguyên đơn là Lâm Thị Thùy D trình bày:
Ngày 10/11/2022, bà Từ Thị Mỹ N có ký với Công ty T (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty) Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3926345 ngày 10/11/2022 của Công ty (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng). Công ty đã giải ngân 96.930.000 đồng (Điều 3.1 Hợp đồng), lãi suất 39%/năm. Theo Hợp đồng, bà N có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/11/2025 theo lịch thanh toán. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bị đơn đã thanh toán 9.236.120 đồng (2 kỳ). Trong đó: G đã trả: 3.372.048 đồng; Tiền lãi đã trả: 5.840.062 đồng; Phí thu hộ đã trả: 24.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 11/01/2023 Bà Từ Thị Mỹ N đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng. Công ty nhiều lần liên hệ nhắc nhở và gửi văn bản thông báo trực tiếp yêu cầu bà N tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng bà N vẫn không có thiện chí trả nợ.
Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty khởi kiện yêu cầu bà N phải trả ngay cho Công ty tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/6/2023 là 109.519.220 đồng và khoản lãi phát sinh sau ngày 30/6/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Công ty chỉ yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Công ty, không yêu cầu ai khác phải cùng có trách nhiệm thanh toán.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn, bà Từ Thị Mỹ N đã vắng mặt và không có bất kỳ ý kiến nào.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn, bà Từ Thị Mỹ N thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T (Việt Nam) với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi) tạm tính đến ngày 10/9/2024, bao gồm: Nợ gốc: 93.557.942 đồng, nợ lãi trong hạn: 48.927.093 đồng, nợ lãi trên dư nợ gốc quá hạn chưa thanh toán: 17.928.320 đồng, lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán: 4.258.334 đồng. Tổng cộng: 164.671.689 đồng. Đồng thời, bà N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 11/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Công ty chỉ yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Công ty ngoài ra không yêu cầu ai khác phải có trách nhiệm thanh toán.
Bị đơn tiếp tục vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tham gia phiên tòa hợp lệ. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tòa án vi phạm thời hạn xét xử.
Về nội dung: Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Theo kết quả xác minh của Công an phường H, Quận A: Bà Từ Thị Mỹ N, sinh năm 1996 có hộ khẩu thường trú: 309/26 Khu phố A (Tổ B, Khu phố B cũ), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. Tại đơn khởi kiện và các bản khai của đại diện ủy quyền của nguyên đơn cũng không cung cấp thêm được địa chỉ nào khác ngoài địa chỉ này. Như vậy, theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án thì bị đơn trong vụ án này là bà Từ Thị Mỹ N, thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt, không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không trình bày bất cứ nội dung gì liên quan đến vụ án. Căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa tiến hành xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt đối với bị đơn.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Đây là tranh chấp dân sự phát sinh từ giao dịch hợp đồng tín dụng giữa công ty với cá nhân, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Bị đơn có địa chỉ thường trú và cư trú tại Quận A. Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về nội dung vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ kiện, nguyên đơn trình bày và cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan thể hiện việc bà Từ Thị Mỹ N có ký vay với Công ty T
(Việt Nam) (gọi tắt là: Công ty) theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3926345 ngày 10/11/2022, ký hình thức giao kết điện tử ngày 14/11/2022 với mục đích tiêu dùng cá nhân (gọi tắt là: Hợp đồng). Hợp đồng do hai bên xác lập giao dịch thông qua phương thức điện tử và ký chữ ký số theo thỏa thuận tại khoản 10.6 Điều 10 của Hợp đồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA ngày 22/01/2024. Xét thấy, các bên tham giao xác lập giao dịch dân sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xà hội, hình thức của giao dịch được xác lập thông qua phương thức điện tử phù hợp với các quy định tại Điều 116 đến Điều 119, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 1, Điều 22, Điều 34, Điều 35, Điều 36 Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Như vậy, Hợp đồng hai bên xác lập nêu trên có hiệu lực kể từ ngày ký là ngày 14/11/2022, và cùng ngày, Công ty đã thực hiện việc giải ngân cho bà Từ Thị Mỹ N số tiền 96.930.000 đồng, thể hiện Hợp đồng có hiệu lực, được thực hiện và có giá trị ràng buộc hai bên. Theo Hợp đồng, bà N có nghĩa vụ thanh toán định kỳ hàng tháng theo phương thức sau: Từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/10/2025 trả 4.618.060 đồng/tháng, kỳ cuối là ngày 10/11/2025 trả 3.347.274 đồng. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bà N đã trả 9.236.120 đồng (2 kỳ), từ ngày 11/01/2023, bà Từ Thị Mỹ N đã không thanh toán theo đúng như cam kết tại Hợp đồng.
Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty yêu cầu bà N thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T (Việt Nam) với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi) tạm tính đến ngày 10/9/2024, bao gồm: Nợ gốc: 93.557.942 đồng, nợ lãi trong hạn: 48.927.093 đồng, nợ lãi trên dư nợ gốc quá hạn chưa thanh toán: 17.928.320 đồng, lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán: 4.258.334 đồng. Tổng cộng: 164.671.689 đồng và khoản lãi phát sinh từ ngày 11/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Công ty chỉ yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Công ty ngoài ra không yêu cầu ai khác phải có trách nhiệm thanh toán. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, thể hiện việc bị đơn có nhận tiền vốn vay từ nguyên đơn và chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn đối với nguyên đơn, theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà N đã được thông báo về việc Công ty khởi kiện đòi nợ vay nhưng đương sự không đến tòa để thực hiện quyền giao nộp tài liệu, chứng cứ trong thời hạn luật định và nghĩa vụ chứng minh theo Điều 6, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Nay, Công ty T (Việt Nam) yêu cầu bà Từ Thị Mỹ N phải trả ngay một lần tổng số nợ còn thiếu cho Công ty T (Việt Nam) (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi) tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 164.671.689 đồng (Một trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng) và khoản lãi phát sinh từ ngày 11/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Công ty chỉ yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Công ty ngoài ra không yêu cầu ai khác phải
có trách nhiệm thanh toán. Theo quy định tại Điều 466 và Điều 467 Bộ luật Dân sự 2015, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vì vậy, buộc bị đơn trả nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi: 164.671.689 đồng (Một trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.
Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn, trong trường hợp bị đơn chậm thanh toán số nợ nêu trên phải tiếp tục chịu lãi với mức suất vay quá hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ vốn, lãi trong hạn, lãi quá hạn do vi phạm nghĩa vụ thanh toán, theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng 2010, là có căn cứ.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 8.233.584 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm tám mươi tư đồng).
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.737.981 đồng (Hai triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn chín trăm tám mươi mốt đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0030971 ngày 31/10/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, 94, 147, 203, 207, 208, 220, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 466, 467 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 1, Điều 22, Điều 34, Điều 35, Điều 36 Luật Giao dịch điện tử năm 2005;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Từ Thị Mỹ N chịu trách nhiệm trả cho Công ty T (Việt Nam) tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 164.671.689 đồng (Một trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 93.557.942 đồng, nợ lãi trong hạn: 48.927.093 đồng, nợ lãi trên dư nợ gốc quá hạn chưa thanh toán: 17.928.320 đồng, lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán: 4.258.334, theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số số 3926345 ngày 10/11/2022, trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền do các bên tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 11/9/2024, người có nghĩa vụ thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ thanh toán thì nguyên đơn có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
[2] Về án phí: Bà Từ Thị Mỹ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.233.584 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm tám mươi tư đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Công ty T (Việt Nam) được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp: 2.737.981 đồng (Hai triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn chín trăm tám mươi mốt đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0030971 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án Quận 12.
[3] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
[4] Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại cái Điều 6,7,7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo các Điều 7, 30, 31 và 32 của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 618/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 618/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
