|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 618/2024/DS-PT.
Ngày: 08/7/2024.
Về việc kiện: “Tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản; tranh chấp liên
quan đến yêu cầu tuyên bố văn
bản công chứng vô hiệu”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân.
- - Các Thẩm phán:
- Ông Phan Nguyên Nguyên.
- Ông Nguyễn Tiến Dũng.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 08/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 370/DSPT ngày 16/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 237/2023/DS-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6 bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2331/2024/QĐ-PT ngày 06/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 8361/2024/QĐ-PT ngày 18/6/2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa phúc thẩm số 8986/TB-TA ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị R, sinh năm: 1961; (có mặt).
- Địa chỉ: Số D Đường F V, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Phan Thị Kim L, sinh năm: 1968; (có mặt).
- Địa chỉ: Số A Đường D, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng C (nay là Văn phòng công chứng Nguyễn Thị S).
- Anh Trần Tấn Đ, sinh năm: 1994; (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số A Đường D, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Tấn Đ: Chị Đào Thị Mai P, sinh năm: 1990; địa chỉ: C P T4 N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo văn bản ủy quyền ngày 17/6/2024 do Văn phòng C1 Thành phố Hồ Chí Minh chứng thực số công chứng 004143 quyển số 06/2024TP/CC-SCC/HĐGD) (có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Phan Thị Kim L;
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị R trình bày:
Bà và bà L có mối quan hệ họ hàng nên từ năm 2017 đến năm 2019 bà có cho bà L vay tiền và vàng nhiều lần với tổng số tiền là 3.665.000.000 đồng (không lãi suất) và 07 lượng 04 chỉ vàng 9999. Khi vay, bà L nói vay với mục đích là làm giấy tờ hợp thức hóa nhà và hùn vốn làm ăn với bà V nào đó bà không quen biết, số tiền vay bà L là người nhận trực tiếp, mỗi lần bà L nhận tiền thì bà có ghi vào một tờ giấy và cho bà L ký tên.
Sau đó một thời gian thì bà phát hiện bà L không hùn vốn làm ăn như đã nói với bà nên bà đã liên tục đòi tiền bà L, bà L hứa hẹn nhiều lần vẫn không trả nên hai bên đã gặp nhau và tổng kết lại số nợ và viết lại giấy nhận nợ như sau:
Ngày 05/02/2021, bà L viết giấy mượn nợ nhưng xin bà ghi số tiền 1.200.000.000 đồng vì bà L nói đây là số tiền bà L vay để sửa nhà và hợp thức hóa giấy tờ nhà nên bà L cam kết sẽ bán nhà để trả trước số tiền này vào ngày 15/3/2021, còn số vàng và tiền còn lại bà vay riêng để đầu tư kinh doanh nên bà L xin không ghi vào giấy nợ lần này sợ chồng con bà L biết. Bà L hứa sẽ trả cho bà sau, nhưng đến ngày 15/3/2021, bà L vẫn không trả cho bà số tiền 1.200.000.000 đồng như đã hứa. Do đó, bà yêu cầu bà L viết lại giấy nhận nợ mới để tổng hợp tất cả các khoản nợ vào giấy nhận nợ mới thì bà L cũng đồng ý.
Ngày 18/06/2021, bà L viết lại giấy mượn nợ với bà có nội dung: Bà L có mượn bà số tiền 3.665.000.000 đồng (Ba tỷ sáu trăm sáu mươi lăm triệu đồng) và 07 cây 04 chỉ vàng 9999; thời hạn trả trong vòng 02 tháng kể từ ngày 18/6/2021 đến ngày 18/8/2021. Trong số tiền và vàng nêu trên đã bao gồm 1.200.000.000 đồng trong giấy mượn nợ ngày 05/2/2021, nhưng đến hạn (18/8/2021) trả bà L cũng không trả tiền và vàng cho bà như đã cam kết. Trong quá trình vay, từ ngày 04/5/2021 đến ngày 05/12/2022, bà L đã chuyển vào tài khoản của bà tổng số tiền là 130.000.000 đồng. Bà đồng ý trừ số tiền bà L đã trả vào số tiền gốc bà L còn nợ. Số nợ còn lại là 3.535.000.000 đồng, cho đến nay bà L vẫn chưa thanh toán cho bà.
Nay bà yêu cầu bà L phải trả ngay cho bà số tiền tạm tính đến ngày 12/10/2023 là 4.914.674.000 đồng (bốn tỷ chín trăm mười bốn triệu sáu trăm bảy tư ngàn đồng). Trong đó: tiền gốc là 3.535.000.000 đồng (Ba tỷ năm trăm ba mươi lăm triệu đồng) cùng 7 cây 4 vàng 9999 trị giá 504.680.000 đồng (Năm trăm lẻ bốn triệu sáu trăm tám mươi triệu đồng) và tiền chậm lãi tạm tính từ ngày 19/8/2021 đến ngày 12/10/2023 với lãi suất 10%/năm, tính được là 874.994.000 đồng. Thời hạn trả: trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà L còn phải tiếp tục trả lãi chậm cho bà kể từ ngày 13/10/2023 trên số tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán xong số nợ trên theo mức lãi suất nhà nước quy định. Sau khi vay tiền của bà không trả thì bà L cố tình tẩu tán tài sản chung của vợ chồng để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà. Cụ thể: Bà L đã làm văn bản xác nhận toàn bộ tài sản chung của vợ chồng là tài sản riêng của chồng tên Trần Văn P1.
Sau khi ông Trần Văn P1 chết, bà L là người được hưởng di sản của ông P1 nhưng ngày 04/5/2021, bà L đến Văn phòng C (nay là Văn phòng C2) làm văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của chồng, đồng thời để con trai tên Trần Tấn Đ toàn quyền sở hữu căn nhà và quyền sử dụng đất tại địa chỉ số A đường số D, Phường A, Quận F, Tp Hồ Chí Minh (thuộc thửa đất số: 551, tờ bản đồ số: 76(BĐĐC 2001 P.10 Q.6); căn nhà số I đường F, ấp M, xã P, huyện C, Tp Hồ Chí Minh (số tờ 08, số thửa 616) và toàn bộ số tiền (bao gồm cả lãi và gốc phát sinh) trong thẻ tiết kiệm có kỳ hạn số seri AAC2848652 mở tại Ngân hàng TMCP Đ1- Chi nhánh C3. Việc bà L từ chối nhận thừa kế di sản nêu trên là nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bà.
Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, bà yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 6 tuyên bố Văn bản từ chối di sản thừa kế của bà Phan Thị Kim L được công chứng số 00012609 quyển số 05/2021_TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/5/2021 tại Văn phòng C, địa chỉ: B M, Phường B, Quận A (Nay là Văn phòng C2, Địa chỉ: số A Đường C, Phường B, Quận A) là vô hiệu một phần.
* Theo bản tự khai ngày 29/12/2022, bị đơn là bà Phan Thị Kim L trình bày:
Bà và bà R có mối quan hệ họ hàng, cuối năm 2018 đến 2019 bà có mượn của bà R số tiền là 310.000.000 đồng. Sau đó bà còn vay tiền của bà R nhiều lần nữa nhưng bà không nhớ chính xác số tiền vay, cụ thể mỗi lần vay từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Đến ngày 19/9/2020, bà và bà R thống nhất chốt lại số tiền còn nợ là 1.300.000.000 đồng. Bà thừa nhận có viết giấy nhận nợ với bà R và có chữ ký của hai bên. Tổng số tiền nợ trên đã bao gồm tiền lãi từ 5% đến 10%/tháng. Trong quá trình vay, bà có trả nhiều lần nhưng không nhớ là bao nhiêu vì bà trả trực tiếp cho bà R, không ghi sổ theo dõi. Từ ngày 19/9/2020 đến ngày 04/5/2021, bà không trả bà R được khoản tiền nào. Từ ngày 04/5/2021 đến ngày 05/12/2022, bà trả cho bà R mỗi tháng 5.000.000 đồng, tổng số tiền là 130.000.000 đồng qua số tài khoản của bà R là 196919829 tại ngân hàng TMCP T. Số tiền này trả cho số nợ gốc vay ngày 19/9/2020. Bà xác nhận chữ viết và chữ ký trên giấy mượn nợ ngày 18/6/2021 đúng là do bà viết nhưng thực tế bà chỉ mượn thêm 07 cây 04 chỉ vàng 9999 (vàng nhẫn), còn số tiền 3.665.000.000 đồng bà không nhận. Do bà sợ bà con bên chồng và con bà biết nên bà viết đại rồi tìm cách trả sau.
Nay bà xác định số tiền thực tế còn nợ bà R là 1.130.000.000 đồng và 07 cây 04 chỉ vàng 9999 (vàng nhẫn). Ngoài ra, bà không còn nợ số tiền nào khác. Do đó, bà đồng ý trả cho bà R số tiền nợ là 1.130.000.000 đồng và 07 cây 04 chỉ vàng 9999 (vàng nhẫn) theo giá trị trường hiện nay. Đối với tiền lãi do bà không có khả năng nên xin bà R miễn cho bà. Đối với số tiền 130.000.000 đồng bà đã trả, bà yêu cầu được trừ vào số tiền nợ gốc.
Ngoài ra bà không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Tấn Đ và Văn phòng C (nay là Văn phòng C2) đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt tại theo giấy triệu tập nên không ghi nhận được ý kiến.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Kim L, ông Trần Tấn Đ và Văn phòng C (nay là Văn phòng C2) đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 237/2023/DS-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6 đã xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R đối với bà Phan Thị Kim L về việc buộc bà Phan Thị Kim L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị R tổng số tiền nợ là 4.298.166.000 đồng (bốn tỉ hai trăm chín mươi tám triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn đồng) và 07 (Bảy) lượng 04 (Bốn) chỉ vàng 9999, loại nhẫn trơn.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R về việc hủy một phần Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế đối với phần từ chối của bà Phan Thị Kim L, được công chứng số 00012609 quyển số 05/2021_TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/5/2021 tại Văn phòng C, địa chỉ: B M, Phường B, Quận A, Tp Hồ Chí Minh (Nay là Văn phòng C2, Địa chỉ: số A Đường C, Phường B, Quận A);
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà Nguyễn Thị R có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bà Phan Thị Kim L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Phần từ chối nhận di sản thừa kế của bà Phan Thị Kim L bị vô hiệu.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 10/01/2024, bà Phan Thị Kim L có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng.
Ngày 19/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định kháng nghị số: 519/QĐ-VKS-DS yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn phải trả số vàng 07 cây và 04 chỉ quy thành tiền Việt Nam đồng tại thời điểm xét xử.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị R yêu cầu bị đơn bà Phan Thị Kim L trả cho bà R số tiền nợ gốc là 3.459.000.000 đồng (vì bà L đã trả cho bà R số tiền nợ gốc là 206.000.000 đồng) cộng với tiền lãi từ ngày 19/8/2021 đến ngày 19/12/2023 với lãi suất 10%/năm với số tiền 807.100.000 đồng và 74 chỉ vàng 9999.
Bị đơn bà Phan Thị Kim L chỉ đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị R 1.094.000.000 đồng và 74 chỉ vàng 9999 vì bà L đã trả cho bà R số tiền 206.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật về tố tụng của Thẩm phán trong quá trình thụ lý, của Hội đồng xét xử cà các đương sự tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà Phan Thị Kim L phải trả cho bà R số tiền nợ gốc là 3.459.000.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm năm mươi chín triệu đồng) cùng 7 cây 4 chỉ vàng 9999 quy thành tiền Việt Nam tại thời điểm xét xử.
Chấp nhận yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả là 807.100.000 đồng tính từ ngày 19/8/2021 đến ngày 19/12/2023 với lãi suất 10%/năm.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với yêu cầu của bà R về việc tuyên bố văn bản từ chối di sản thừa kế của bà Phan Thị Kim L được công chứng tại Văn phòng C là vô hiệu phần từ chối nhận di sản của bà Phan Thị Kim L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Kim L ngày 10/01/2024 và quyết định kháng nghị số: 519/QĐ-VKS-DS ngày 19/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là hợp lệ và trong hạn luật định nên có căn cứ để xem xét tại Tòa án cấp phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo và kháng nghị thì:
[2.1]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ là 4.272.166.000 đồng gồm: Nợ gốc: 3.459.000.000 đồng, nợ lãi: 813.166.000 đồng và 7 lượng 04 chỉ vàng 9999 loại vàng nhẫn:
Bà R và bà L đều xác nhận: Từ năm 2017 đến năm 2019 bà L đã nhiều lần vay tiền và vàng của bà R để đầu tư kinh doanh, mỗi lần nhận tiền, vàng đều có ký nhận nợ với nhau. Tuy nhiên, hai bên không thống nhất về số tiền vay, bà R cho rằng: Trong quá trình vay, bà L nhiều lần viết giấy nhận nợ với số tiền khác nhau, nhưng đến ngày 18/6/2021, hai bên đối chiếu nợ và bà L đã viết giấy nhận nợ xác định nợ bà R tổng số tiền gốc là 3.665.000.000 đồng và 7 lượng 04 chỉ vàng 9999.
Còn bà L cho rằng bà chỉ vay của bà R tổng số tiền 1.300.000.000 đồng cả gốc và lãi và và 07 lượng 04 chỉ vàng 9999 (vàng nhẫn); giấy nhận nợ ngày 18/6/2021 đúng là chữ viết và chữ ký của bà L nhưng bà bị bà R gây áp lực ép phải viết và ký nhận, còn tiền thì bà không nhận đủ số tiền như đã viết trong giấy nhận nợ. Trong quá trình vay bà đã trả được 206.000.000 đồng nên số tiền thực tế bà còn nợ là 1.094.000.000 đồng và 07 lượng 04 chỉ vàng 9999 (vàng nhẫn). Ngoài ra, bà không còn nợ số tiền nào khác.
Việc bà L cho rằng bà bị nguyên đơn ép phải viết giấy nhận nợ và ký nhận nợ nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ giấy mượn nợ ngày 18/6/2021, có cơ sở xác định: Bà L có vay bà R tổng số tiền là 3.665.000.000 đồng và 07 lượng 04 chỉ vàng 9999; thời hạn trả trong vòng 02 tháng kể từ ngày 18/6/2021 đến ngày 18/8/2021, không thỏa thuận lãi suất.
Hợp đồng vay giữa các bên được lập thành văn bản và được bị đơn xác nhận do bị đơn tự viết và ký tên, nội dung hợp đồng không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Việc bà L không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, bà R yêu cầu Tòa án buộc bà L phải trả số tiền nợ gốc và lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có căn cứ chấp nhận, nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ vay là 206.000.000 đồng nên nguyên đơn đồng ý cấn trừ vào nợ gốc. Do đó, số tiền gốc còn lại là 3.459.000.000 đồng.
[2.2] Đối với tiền lãi: Tuy hợp đồng vay không thỏa thuận lãi, nhưng hai bên có thỏa thuận thời hạn trả (18/8/2021) nhưng bị đơn không thanh toán nợ đúng hạn nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm (0.83%/tháng) là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, nên chấp nhận yêu cầu tiền lãi của nguyên đơn. Tiền lãi được tính từ ngày 18/8/2021 đến ngày xét xử 19/12/2023, tính được là: 3.459.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 28 tháng = 807.100.000 đồng. Do đó, cần buộc bà L phải thanh toán cho bà R tổng số tiền nợ là 4.266.100.000 đồng.
[2.3] Đối với nợ vàng: Ghi nhận bà L đồng ý trả cho bà R 07 lượng 04 chỉ vàng 9999, loại nhẫn trơn. Tuy nhiên, cần quy ra tiền Việt Nam Đồng để buộc bà Liên thanh t cho bà R theo quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ. Theo giá thị trường vàng nhẫn 9999 ngày 08/7/2024 là: 74.500.000đồng/lượng x 74 chỉ = 551.300.000 đồng.
Do đó, cần buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số vàng 74 chỉ 9999 quy thành tiền là 551.300.000 đồng, cộng với số tiền 4.266.100.000 đồng, tổng cộng là 4.817.400.000 đồng.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc bố văn bản từ chối nhận di sản của bà Phan Thị Kim L đã được công chứng là vô hiệu một phần:
[3.1] Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế được bà Phan Thị Kim L và ông Trần Hoài P2 lập ngày 04/5/2021, với nội dung từ chối nhận di sản thừa kế của ông Trần Văn P1 (là chồng của bà L) để lại, gồm các tài sản:
- Toàn bộ căn nhà và quyền sử dụng đất tại địa chỉ số A đường số D, Phường A, Quận F (thuộc thửa đất số 551, tờ bản đồ số: 76 (BĐC 2001 P.10 Q.6).
- Toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 616, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ xã P, huyện C, Tp ..
- Toàn bộ số tiền bao gồm cả gốc và lãi phát sinh có trong thẻ tiết kiệm có kỳ hạn số seri AAC mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 (Đ1) – Chi nhánh C3.
[3.2] Trong văn bản từ chối nhận di sản có ghi rõ:“ Văn bản từ chối nhận di sản này do chúng tôi tự nguyện lập, việc từ chối nhận di sản thừa kế nêu trên không nhằm trốn tránh việc thực hiện bất kỳ nghĩa vụ tài sản nào của chúng tôi đối với người khác, nếu có thì văn bản này vô hiệu”. Văn bản được công chứng số 00012609 quyển số 05/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/5/2021 tại Văn phòng C (Nay là Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị S).
Tuy nhiên, trước khi lập văn bản từ chối nhận di sản nêu trên thì từ năm 2017 bà L đã nhiều lần vay tiền của bà R cho đến ngày 18/6/2021 bà L chốt số nợ đối với bà R với tổng số tiền là 3.665.000.000 đồng và 07 lượng 04 chỉ vàng chưa thanh toán. Ngoài phần di sản của ông Trần Văn P1 để lại thì bà L không còn tài sản nào khác và không có nguồn thu nhập nào khác để trả nợ cho bà R, nên sau khi từ chối nhận di sản của chồng thì bà L không có khả năng trả nợ.
Như vậy, việc bà L từ chối nhận di sản thừa kế của ông Trần Văn P1 là cố ý trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với bà R, vi phạm khoản 1 Điều 620 Bộ luật dân sự 2015.
[3.3] Do nội dung từ chối nhận di sản của bà Phan Thị Kim L vi phạm quy định của pháp luật nên dù Công chứng viên không có lỗi trong quá trình công chứng cũng cần phải hủy một phần Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế đối với phần từ chối của bà Phan Thị Kim L, được công chứng số 00012609 quyển số 05/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/5/2021 tại Văn phòng C (Nay là Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị S). Vì vậy, phần Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế đối với phần từ chối của bà Phan Thị Kim L, được công chứng số 00012609 quyển số 05/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/5/2021 bị vô hiệu và hủy bỏ Văn bản được công chứng số 00012609 quyển số 05/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/5/2021 tại Văn phòng C bị tuyên bố vô hiệu là có căn cứ.
[3.4] Tuy nhiên, sau khi bà L từ chối nhận di sản của ông Trần Văn P1 trong đó có nhà đất tại địa chỉ số A đường số D, Phường A, Quận F và nhường quyền hưởng di sản thừa kế cho con trai là Trần Tấn Đ thì anh Đ đã được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với nhà đất nêu trên vào ngày 01/7/2021.
Đến ngày 11/11/2021, anh Trần Tấn Đ lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho em trai là anh Trần Hoài P2 đối với nhà đất nêu trên; ngày 30/11/2021 anh Trần Hoài P2 và vợ là chị Nguyễn Thị Thanh H thế chấp nhà đất nêu trên cho Quỹ phát triển nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng số: 21.1.0283/HĐTC-TNT để vay số tiền 900.000.000đồng theo hợp đồng tín dụng số: 21.1.0283/HĐTC-TNT với thời hạn vay 20 năm, lãi suất 4,7%/năm.
Do Tòa án cấp sơ thẩm không đưa anh P2, chị H, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H và Q phát triển nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh vào tham gia tố tụng để giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu của bà R là thiếu sót và vi phạm thủ tục tố tụng nên Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung khắc phục tại Tòa án cấp phúc thẩm nên cần hủy một phần bản án sơ thẩm đối với yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và giao Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết lại là có căn cứ.
Với phân tích trên cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bác kháng cáo của bà L để giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện cuả bà R để buộc bà L có nghĩa vụ thanh toán cho bà R số tiền là 4.266.100.000 đồng và số vàng 74 chỉ 9999 quy thành tiền là 551.300.000 đồng, tổng cộng là 4.817.400.000 đồng; hủy một phần bản án sơ thẩm theo hướng nhận định nêu trên là có căn cứ.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Bà R không phải chịu án phí sơ thẩm. Do yêu cầu khởi kiện của bà R được chấp nhận nên bà L nên phải chịu án phí theo quy định. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Kim L, sửa bản án sơ thẩm xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R đối với bà Phan Thị Kim L về việc buộc bà Phan Thị Kim L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị R số tiền nợ là 4.266.100.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm sáu mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng) và số vàng 74 chỉ 9999 quy thành tiền là 551.300.000 đồng (Năm trăm năm mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng).
- Hủy một phầm bản án sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R về việc hủy một phần Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế đối với phần từ chối của bà Phan Thị Kim L, được công chứng số 00012609 quyển số 05/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/5/2021 tại Văn phòng C, địa chỉ: B M, Phường B, Quận A, Tp Hồ Chí Minh (Nay là Văn phòng C2, Địa chỉ: số A Đường C, Phường B, Quận A);
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Phan Thị Kim L có nghĩa vụ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.817.400 đồng (Một trăm mười hai triệu tám trăm mười bảy nghìn bốn trăm đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Phan Thị Kim L có nghĩa vụ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ số tiền đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009528 ngày 18/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 6, bà Phan Thị Kim L đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Tổng cộng bà Phan Thị Kim L có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị R số tiền là 4.817.400.000 đồng (Bốn tỷ tám trăm mười bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà Nguyễn Thị R có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bà Phan Thị Kim L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị R tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hữu Nhân Lê Thị Tú |
Bản án số 618/2024/DS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Số bản án: 618/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
