Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 617/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành

Các Hội thẩm nhân dân: bà Bạch Thị Kim Loan, bà Vũ Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thanh Hoan- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 366/2024/TLST- HS ngày 17 tháng 07 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 557/2024/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 08 năm 2024, đối với:

* Bị cáo Mã Thị Y; tên gọi khác: không; sinh năm 1993, tại Bắc Giang; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn G C, xã C, L, Hà Nam; nơi ở: thôn Đ, xã K, L, Bắc Giang; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: nguyên Nhân viên Công ty TNHH T1; con ông Mã Văn C và bà Hoàng Thị C1; gia đình có 04 chị em (bị cáo là con thứ nhất); có chồng là Phạm Văn N (sinh năm 1992; ly hôn ngày 02/12/2022) và có 03 con riêng (sinh năm 2011, năm 2020 và ngày 21/01/2022); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 28/12/2023 (Bản án số 371/2023/HS- ST), Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 31/5/2023 đến ngày 09/6/2023); hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (do Công an thành phố T khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt, tạm giam từ ngày 14/3/2024 về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản); trong vụ án này, bị cáo Mã Thị Y không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo (theo chỉ định) có bà Đỗ Thị H; luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; 0915 615 243; có mặt.

* Người bị hại: Công ty TNHH T1; trụ sở: số E ngách A L, phường K, T, Hà Nội; đại diện theo pháp luật là ông Phạm Văn S; chức vụ: Giám đốc Công ty; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH T1 (gọi tắt là Công ty T1) có địa chỉ tại số E ngách A, Lê Trọng T, phường K, T, Hà Nội; anh Phạm Văn S là chủ sở hữu, Giám đốc và đại diện theo pháp luật của Công ty; ngành nghề kinh doanh: buôn bán sữa, bỉm và đồ trẻ em. Tháng 08 năm 2021, anh Phạm Văn S thuê Mã Thị Y (là em dâu) làm nhân viên bán hàng với tiền lương tháng là 10.000.000 đồng, không ký kết hợp đồng lao động và không có văn bản phân công nhiệm vụ cụ thể. Tại Công ty, Y thực hiện các phần công việc: tìm kiếm khách hàng, giới thiệu sản phẩm, liên hệ với khách hàng trên các mạng xã hội Facebook và Z; đăng ký theo số điện thoại của Y là 098..., để tên là “Sữa mẹ và bé”, F tên “Mini House”; lên đơn hàng, báo đơn hàng cho kế toán của Công ty, liên hệ gửi vận chuyển hàng và liên lạc với khách hàng để thu hồi công nợ. Khi có khách hàng đặt hàng trực tiếp với Y thì Y gửi thông tin đơn hàng cho kế toán của Công ty để lên đơn hàng và chuyển đơn hàng cho anh S; sau khi anh S kiểm duyệt thì sẽ giao cho bộ phận vận chuyển để mang hàng ra các bến xe để gửi hàng cho khách hàng; sau đó, Y có nhiệm vụ liên lạc với khách hàng để yêu cầu họ thanh toán tiền hàng. Đối với những khách hàng mới thì Y sẽ yêu cầu họ chuyển khoản thanh toán trước rồi mới báo đơn hàng cho kế toán. Đối với những khách hàng đã mua hàng nhiều lần thì sau khi nhận hàng, Y sẽ liên lạc với khách hàng để thu hồi công nợ. Theo quy định của Công ty và anh S, Y phải yêu cầu khách hàng chuyển tiền thanh toán đến tài khoản số 19032313001555 (mở tại Ngân hàng T2) của anh S.

Từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 11 năm 2022, Y đã liên hệ, lên đơn hàng cho 36 khách hàng của Công ty T1; sau khi Công ty đã chuyển hàng là sữa, bỉm và đồ trẻ em theo đơn hàng thì Y gọi điện thoại, đề nghị họ chuyển tiền thanh toán vào tài khoản số 19038110636014 (mở tại Ngân hàng T2) của Y. Từ ngày 14/01/2022 đến ngày 07/11/2022, 36 khách hàng nêu trên đã chuyển khoản 90 lần đến tài khoản của Y tổng cộng là 1.456.581.000 đồng.

Sau khi nhận 1.456.581.000 đồng của 36 khách hàng trên, Y không chuyển khoản hoặc nộp về cho Công ty. Ngày 09/11/2022, anh S phát hiện sự việc thì Y thừa nhận đã nhận tiền hàng và sử dụng để chi tiêu cá nhân hết; anh S và Y lập “Bảng kê công nợ” và “B khai nhận số tiền đã chiếm đoạt” thể hiện: Yên đã nhận tiền hàng tổng cộng là 1.456.581.000 đồng, đối trừ tiền lương và hoa hồng của Y là 21.587.769 đồng, tiền mặt do Y đã giao nộp cho Công ty (ngày 12/8/2022 và ngày 08/11/2022) là 71.700.000 đồng; nên Y còn chiếm đoạt tài sản của Công ty là 1.363.693.231 đồng (= 1.456.581.000- 93.287.769). Đến ngày 31/01/2023 (bút lục 51- 55), Y không giao nộp lại tiền theo cam kết nên anh Phạm Văn S đã nộp đơn tố cáo đối với Mã Thị Y. Đến nay, Y đã khắc phục được 200.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 2469 ngày 24/4/2023, Phòng K- Công an Thành phố H (bút lục 281) kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Mã Thị Y trên “Bảng kê công nợ” và “B khai nhận số tiền đã chiếm đoạt” do anh Phạm Văn S giao nộp là do Mã Thị Y ký và viết ra.

Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng T2 của Mã Thị Y (bút lục 69- 146) xác định: có việc 36 khách hàng chuyển tiền vào tài khoản của Mã Thị Y. Cơ quan điều đã xác minh được thông tin và ghi lời khai của 23 trường hợp là khách hàng cá nhân đã mua hàng của Công ty T1 trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 11 cùng năm 2022; các trường hợp này đều khai nhận trong thời gian trên có đặt mua hàng của Công ty T1 thông qua Mã Thị Y, đã nhận hàng và thanh toán vào tài khoản ngân hàng của Mã Thị Y theo yêu cầu. Đối với 13 khách hàng còn lại, đều sử dụng tên các cửa hàng nên Cơ quan điều tra không xác định được địa chỉ cụ thể để tiến hành ghi lời khai.

Đại diện hợp pháp của Công ty T1 khai nhận bị chiếm đoạt tổng cộng là 1.363.693.231 đồng, đã được trả lại 200.000.000 đồng nên còn bị chiếm đoạt là 1.163.693.231 đồng nhưng chỉ yêu cầu bồi thường ngay là 700.000.000 đồng thiệt hại về tài sản; giữa đại diện của Công ty V sẽ thỏa thuận về nghĩa vụ, thời hạn bồi thường đối với 463.693.231 đồng thiệt hại còn lại hoặc khởi kiện vụ án dân sự khác.

* Tại Cáo trạng số 320/CT- VKS- P3 ngày 02/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đã truy tố Mã Thị Y về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội luận tội đối với bị cáo Mã Thị Y tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 175, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 54 và 56 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Mã Thị Y từ 10 năm đến 11 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù theo Bản án số 371 ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thành hình phạt chung từ 12 năm, 06 tháng đến 13 năm, 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo Mã Thị Y lập luận, đồng thuận quy kết của Cáo trạng và luận tội Kiểm sát viên về hành vi phạm tội, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc bị cáo Mã Thị Y thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại, đang nuôi dưỡng con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (tại thời điểm phạm tội) và có hoàn cảnh kinh tế, gia đình khó khăn để giảm nhẹ và xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đủ tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và nuôi dưỡng các con còn nhỏ tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan điều tra Công an Thành phố H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo Mã Thị Y tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của đại diện hợp pháp của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: Công ty TNHH T1 có địa chỉ tại số E ngách A L, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội; anh Phạm Văn S là chủ sở hữu, Giám đốc và đại diện theo pháp luật của Công ty; ngành nghề kinh doanh: buôn bán sữa, bỉm và đồ trẻ em. Từ tháng 08 năm 2021 đến ngày 09/11/2022, anh Phạm Văn S đã thuê Mã Thị Y làm nhân viên bán hàng của Công ty với mức lương hàng tháng là 10.000.000 đồng và không ký kết hợp đồng lao động. Từ ngày 14/01/2022 đến ngày 07/11/2022, Mã Thị Y đã bán hàng và thu tiền của 36 khách hàng tổng cộng là 1.456.581.000 đồng nhưng không nộp về Công ty mà chiếm đoạt là 1.363.693.231 đồng để chi tiêu cho các mục đích cá nhân. Hành vi của Mã Thị Y đã phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự, Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Mã Thị Y thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, xác nhận trị giá tài sản đã chiếm đoạt, bày tỏ thái độ ăn năn hối cải và đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

[3] Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

...

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm..."

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Mã Thị Y là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản người khác và tổ chức kinh tế, gây mất trật tự, trị an tại địa phương và gây nên sự bất bình trong dư luận nhân dân nên cần xử phạt nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Bị cáo Mã Thị Y phạm tội độc lập, không có đồng phạm và không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; tại thời điểm phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt và chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại tài sản” và tại thời điểm phạm tội, “bị cáo đang nuôi dưỡng con nhỏ dưới 12 tháng tuổi”, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đánh giá về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, trị giá tài sản đã chiếm đoạt, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng bổ sung Điều 54 Bộ luật Hình sự và ghi nhận quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Do bị cáo Y còn phải chấp hành hình phạt 30 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án đã có hiệu lực pháp luật số 371/2023/HS- ST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm nên Hội đồng xét xử quyết định tổng hợp hình phạt của cả 02 Bản án đối với bị cáo theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung; xét thấy bị cáo Y có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn, gặp nhiều khó khăn và trở ngại trong quá trình thi hành án dân sự nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Mã Thị Y.

[7] Bị cáo Mã Thị Y đã chiếm đoạt tài sản trị giá là 1.363.693.231 đồng, đã khắc phục hậu quả là 200.000.000 đồng nên bị cáo còn phải bồi thường là 1.163.693.231 đồng cho người bị hại theo quy định tại theo khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 485, 586 và 589 Bộ luật Dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường ngay 700.000.000 đồng; đối với thiệt hại còn lại là 463.693.231 đồng (= 1.163.693.231- 700.000.000) thì đại diện Công ty và bị cáo sẽ tự nguyện thỏa thuận về phương thức và thời hạn bồi thường hoặc khởi kiện vụ án dân sự khác; bị cáo Mã Thị Y đồng thuận quan điểm nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại về phần bồi thường thiệt hại tài sản.

[8] Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án dân sự, Hội đồng xét xử xác định: Người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự về nghĩa vụ trả tiền phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo các Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[9] Bị cáo Mã Thị Y phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết về án phí; bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Mã Thị Y phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

- Áp dụng khoản 4 Điều 175, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 54 và 56 Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Mã Thị Y 10 (mười) năm tù; tổng hợp với hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù theo Bản án số 371/2023/HS- ST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; buộc bị cáo Mã Thị Y phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 Bản án là 12 (mười hai) năm, 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (theo Bản án 371 nêu trên) từ ngày 31/5/2023 đến ngày 09/6/2023.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Mã Thị Y.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự; căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Buộc bị cáo Mã Thị Y phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm Công ty TNHH T1 là 700.000.000 đồng.

- Dành quyền khởi kiện cho Công ty TNHH T1 và bị cáo Mã Thị Y đối với phần thiệt hại còn lại là 463.693.231 đồng trong vụ án dân sự khác.

- Trong trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Mã Thị Y phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 32.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

4. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Mã Thị Y và đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND cấp cao tại Hà Nội;

- VKSND cấp cao tại Hà Nội;

- VKSND Thành phố Hà Nội (P3);

- Công an TP Hà Nội (PC03- Đ8);

- Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên;

- Cục THADS Thành phố Hà Nội;

- Bị cáo; người bị hại;

- Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM NĂNG THÀNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 617/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 617/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Mã Thị Y phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger