|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 617/2024/DS-PT Ngày: 03/12/2024 V/v “Tranh chấp dân sự hợp đồng đặt cọc”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- - Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng
- Ông Nguyễn Chí Dũng
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Ngày 03/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 439/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp dân sự hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2024/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 606/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973.
- Địa chỉ: Tổ C, Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Ông Trương Văn L, sinh năm 1980.
- Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- - Người kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn T là nguyên đơn của vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Tấn T trình bày:
Ngày 15/10/2023 âm lịch, ông T và ông L có ký hợp đồng mua bán lúa khô – lúa tươi. Thỏa thuận mua lúa đài thơm tám. Số lượng 100 công. Giá lúa 9.300đ/01 ký lúa tươi. Hợp đồng thỏa thuận ngày 24/12/2023 âm lịch cắt lúa, ngày 25/12/2023 âm lịch nhận lúa, ông L đồng ý.
Ông T đặt cọc cho ông L số tiền 50.000.000 đồng. Ông T chỉ làm cò giới thiệu mua bán lúa, không có tiền. Số tiền đặt cọc là của thương lái đưa cho ông T để đặt cọc cho bên bán. Khi hợp đồng thì không có thỏa thuận là có ghe mới cân lúa, chỉ thỏa thuận ngày 25/12/2023 âm lịch sẽ cân lúa. Thỏa thuận bóc vác, ghi cân lúa và phương tiện vận chuyển sẽ do bên ông T lo.
Ngày 24/12/2023 âm lịch thì người dân cắt lúa đúng thỏa thuận. Ngày 25/12/2023 âm lịch có 01 ghe lúa mắc cạn nên ghe của ông T không vô được. Ông T có điện thoại báo cho ông L hay phải đợi nước lớn mới vô được. Tối cùng ngày hơn 21 giờ 30 phút thì ghe vào được trong ruộng của ông L, có đủ nhân công nhưng ông L không chịu cân lúa.
Sáng ngày 26/12/2023 âm lịch, ông T có đến gặp ông L để nói chuyện, ông T mới nói công ngủ giữ lúa cực khổ, ông T cho thêm mỗi ký lúa 100 đồng nhưng ông L cũng không chịu và bán lúa cho người khác. Ông T xin lấy lại 50.000.000 đồng tiền cọc nhưng ông L không trả cho ông T.
Qua nhiều lần thỏa thuận với ông L không thành nên ông T có gửi đơn lên xã giải quyết. Buổi hòa giải ngày 05/02/2024, ông L có đến giải quyết, nhưng ông L vẫn không đồng ý trả lại tiền cọc cho ông T nên hòa giải không thành.
Ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh giải quyết buộc ông Trương Văn L trả cho ông T số tiền đặt cọc mua lúa là 50.000.000 đồng.
Ông T chỉ yêu cầu một mình ông L có nghĩa vụ trả tiền, ngoài ra không yêu cầu ai khác.
Theo lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Trương Văn L trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn thì ông Trương Văn L thống nhất có thỏa thuận mua bán lúa tươi với ông T, ngày 15/10/2023 âm lịch có ký hợp đồng mua bán lúa tươi với ông T, thỏa thuận bán 100 công lúa, giống Đài T, với giá 9.300 đồng/1kg lúa tươi. Thỏa thuận 24/12/2023 âm lịch cắt lúa, 25/12/2023 âm lịch sẽ cân lúa. Ông L đã nhận tiền cọc 50.000.000 đồng. Bản thân ông L có canh tác 10 công đất, ông L đại diện những hộ dân lân cận để bán lúa tươi cho ông T.
Ngày 24/12/2023 âm lịch ông L và những hộ dân đều đã cắt lúa sẵn, đợi ngày 25/12/2023 âm lịch cân, nhưng đến chiều tối ngày 25/12/2023 ông T không vô cân lúa, chỉ hứa hẹn, không thấy ghe vô cân. Đến khoảng hơn 07 giờ sáng hôm sau (26/12/2023 âm lịch) vẫn không thấy ghe vô cân lúa, ông L có liên hệ ông T yêu cầu cân lúa, ông L nói lúa qua đêm, yêu cầu cân thì thêm 100đ/kg lúa tươi (tức là 9.400đ/kg) nhưng ông T không chịu nên ông L phải kêu người khác để bán. Lúc này ông L bán được cho ông M (đã nhận cọc 20.000.000 đồng, chưa cân lúa).
Chiều ngày 26/12/2023 âm lịch (ngày 05/02/2024 dương lịch) tại buổi hòa giải ở ấp thì ông T đồng ý cân lúa với giá 9.400 đồng/kg lúa tươi, nhưng lúc này ông L đã bán cho người khác nên không có lúa để cân cho ông T.
Nay đối với yêu cầu của ông T thì ông L không đồng ý, do ông T đã vi phạm thỏa thuận nên phải mất tiền cọc.
Ông L là người đứng ra nhận tiền từ ông T, sau khi nhận tiền thì ông L đã đưa cho các hộ dân số tiền tương ứng với số đất họ canh tác 500.000đ/công. Nếu Tòa án xử buộc ông L trả tiền cho ông T thì ông L không yêu cầu cá nhân khác có nghĩa vụ liên đới cùng ông L trả trong vụ án này. Ông L sẽ khởi kiện bằng vụ án khác nếu có tranh chấp.
Theo lời khai tại phiên tòa ngày 10/7/2024 người làm chứng ông Đỗ Văn Đ trình bày:
Ông Đ có canh tác 18 công lúa trong số lúa mà ông L đứng ra bán lúa tươi giùm. Ông Đ có biết thỏa thuận giữa ông T với ông L nội dung ngày 24/12/2023 âm lịch sẽ cắt lúa, ngày 25/12/2023 âm lịch sẽ cân lúa, đặt cọc 500.000đ/công. Ngày 24/12/2023 âm lịch thì tất cả người dân đều cắt lúa vô bao và chất lên cây lúa xong. Đến ngày 25/12/2023 âm lịch thì ông T có vô chỗ cây lúa nhưng không nói khi nào sẽ cân lúa, cũng không có ghe vô chở lúa. Đến tối khoảng 19 giờ 30 phút thì có 03 người bóc vác vô nhưng không có chủ ghe hay người mua vô để cân lúa. Đến sáng ngày 26/12/2023 âm lịch vẫn không thấy bên ông T cân lúa nên những hộ dân có thông báo cho ông L để kêu người khác bán lại vì lúa qua 3 đêm bị giảm số ký, lúa bị tối màu sợ để lâu sẽ bị hư hỏng, bán giá không được cao.
Theo lời khai tại phiên tòa ngày 10/7/2024 người làm chứng ông Lê Văn T1 trình bày:
Ông T1 có canh tác 05 công lúa trong số lúa mà ông L đứng ra bán lúa tươi giùm. Ông T1 có biết thỏa thuận giữa ông T với ông L nội dung ngày 24/12/2023 âm lịch sẽ cắt lúa, ngày 25/12/2023 âm lịch sẽ cân lúa, đặt cọc 500.000 đồng/công. Ngày 24/12/2023 âm lịch thì tất cả người dân đều cắt lúa vô bao và chất lên cây lúa xong. Đến ngày 25/12/2023 âm lịch thì ông T có vô chỗ cây lúa nhưng không nói khi nào sẽ cân lúa, cũng không có ghe vô chở lúa. Người dân có hỏi ông T khi nào cân lúa thì ông T nói không có nước, chờ ghe. Nhưng lý do ông T chần chừ không chịu cân lúa của người dân là vì ông T đặt cọc với ông L là 9.300 đồng/ký lúa tươi nhưng ông T bán lại cho thương lái là 9.600 đồng/ký lúa tươi. Ngày 25/12/2023 âm lịch ông T và thương lái thỏa thuận giá không được, người dân thì đợi đến tối nhưng ông T vẫn không chịu cân lúa. Ông T nói khuya khoảng 21 giờ 30 phút có ghe vô là không đúng vì ông T1 không thấy có ghe nào hết. Đồng thời cũng không có chuyện ông L và người dân không cho ông T cân lúa như ông T trình bày.
Theo lời khai tại phiên tòa ngày 10/7/2024 người làm chứng ông Trần Trung C trình bày:
Ông C có canh tác 08 công lúa trong số lúa mà ông L đứng ra bán lúa tươi giùm. Ông C có biết thỏa thuận giữa ông T với ông L nội dung ngày 24/12/2023 âm lịch sẽ cắt lúa, ngày 25/12/2023 âm lịch sẽ cân lúa, đặt cọc 500.000 đồng/công. Ngày 24/12/2023 âm lịch thì tất cả người dân đều cắt lúa vô bao và chất lên cây lúa xong. Đến ngày 25/12/2023 âm lịch thì ông T có vô chỗ cây lúa nhưng không nói khi nào sẽ cân lúa, cũng không có ghe vô chở lúa. Có mấy hộ dân của ông C ngủ ở cây lúa để giữ lúa thì đến khuya vẫn không thấy có ghe của ông T vô cân lúa. Khuya có 03 người bóc vác vô nhưng không nhắc gì về việc cân lúa với ông L. Sáng ngày 26/12/2023 âm lịch vì lúa để qua nhiều đêm bị xuống màu nên ông L mới kêu thương lái khác để cân lúa cho dân.
Theo lời khai tại phiên tòa ngày 15/7/2024 người làm chứng ông Đỗ Quang T2 trình bày:
Ông T2 có canh tác 06 công lúa trong số lúa mà ông L đứng ra bán lúa tươi giùm. Ông T3 biết thỏa thuận giữa ông T với ông L nội dung ngày 24/12/2023 âm lịch sẽ cắt lúa, ngày 25/12/2023 âm lịch sẽ cân lúa, đặt cọc 500.000 đồng/công. Ngày 24 âm lịch người dân đã cắt lúa xong, sang ngày 25/12/2023 âm lịch thì ông thấy ông T đem ghe vô để cân lúa và cũng không kêu ông L cân lúa. Ngày 25/12/2023 âm lịch ông T có vô cây lúa chung với ông Q (là thương lái) nhưng không đề cặp chuyện mua lúa với người dân hay với ông L. Hai bên giữa ông T và ông L mâu thuẫn giá cả nên ông Q bỏ ra về, đến tối ông T cũng ra về. Gần khuya thì có 03 người bóc vác vô chỉ nói “giờ này không có ghe sao mà cân lúa”, rồi ăn uống xong cũng bỏ ra về. Sáng ngày 26/12/2023 âm lịch vì lúa bị xậm màu, hao hụt số ký nên thì ông L kêu thương lái khác mua lại lúa của dân chỉ với giá 9.000 đồng/ký lúa tươi.
* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số 99/2024/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã tuyên xử:
- Không chấp yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn T về việc yêu cầu ông Trương Văn L có trách nhiệm trả tiền đặt cọc với số tiền là 50.000.000 đồng.
- Về án phí:
Ông Nguyễn Tấn T phải chịu 2.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp 1.250.000 đồng theo biên lai thu số 0008371 ngày 22/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vậy ông T phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.250.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
- - Ngày 24/7/2024, ông Nguyễn Tấn T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, buộc bị đơn là Trương Văn L trả tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng cho ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- + Ông Nguyễn Tấn T có thay đổi nội dung đơn kháng cáo chỉ yêu cầu ông Trương Văn L trả số tiền đặt cọc là 20.000.000 đồng.
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của ông T là có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông T sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Tấn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 15/12/2023 giữa ông Nguyễn Tấn T với ông Trương Văn L có lập tờ “Hợp đồng mua bán lúa khô, lúa tươi”; nội dung thỏa thuận là ông L sẽ bán cho ông T lúa đài thơm tám, số lượng 100 công, giá mua là 9.300 đồng/kg lúa tươi. Về thời điểm thì hai bên thỏa thuận là ngày 24/12/2023 âm lịch sẽ cắt lúa và ngày 25/12/2023 âm lịch sẽ cân lúa; đồng thời ông T đã đặt cọc cho ông L 50.000.000 đồng (tương ứng 500.000đ/công). Ông T và ông L cũng xác định việc hai bên ký hợp đồng hoàn toàn là tự nguyện, không ai bị ép buộc, đe dọa hay cưỡng ép. Mục đích và nội dung của hợp đồng cũng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng có hiệu lực pháp luật, buộc các bên phải thực hiện.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn T về việc yêu cầu ông Trương Văn L có trách nhiệm trả tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng.
Ông T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, buộc ông L trả tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng cho ông.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Trương Văn L đồng ý trả 20.000.000 đồng số tiền đặt cọc lúa cho ông Nguyễn Tấn T và ông T đồng ý; Về án phí sơ thẩm do các bên đương sự không thỏa thuận được nên Hội đồng xét xử xác định lại theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, các đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và những thoả thuận trên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận và sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Tấn T, Sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[3] Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Tấn T phải chịu 1.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Tấn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 328, 430, 434 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- - Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tấn T.
- - Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2024/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
- Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Nguyễn Tấn T và ông Trương Văn L
- Ông Trương Văn L đồng ý trả cho ông Nguyễn Tấn T số tiền đặt cọc mua bán lúa là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Ông Nguyễn Tấn T phải chịu 1.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp 1.250.000 đồng theo biên lai thu số 0008371 ngày 22/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vậy ông T được nhận lại số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 250.000 đồng.
- Án phí phúc thẩm: Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Tấn T 300.000 đồng theo biên lai số 0008934 ngày 30 /7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
|
Bản án số 617/2024/DS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 617/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ C, Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Ông Trương Văn L, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
