|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 617/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 7 - 2024.
V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Vân
- Ông Nguyễn Đình Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2024/TLST-HN ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Đức H, sinh năm: 1985; địa chỉ: Tổ C, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Chị Lê Thị Ngọc P, sinh năm: 1991; địa chỉ: Tổ C, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 2 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Trần Đức H trình bày:
Anh và chị Lê Thị Ngọc P trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013, đến năm 2014 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, năm 2022 anh đã có đơn xin ly hôn chị P nhưng được Toà động viên, phân tích nên anh đã rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên sau khi anh rút đơn ly hôn đến nay cuộc sống vợ chồng vẫn không cãi thiện, vẫn tiếp tục mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi, hiện nay vợ chồng sống chung một nhà nhưng mạnh ai nấy sống, tình cảm trách nhiệm với nhau không còn nên anh yêu cầu được ly hôn chị Lê Thị Ngọc P để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Lê Đại P1, sinh ngày 13/01/2014, ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Anh và chị P tự thoả thuận, không yêu cầu Toà giải quyết.
Bị đơn chị Lê Thị Ngọc P trình bày tại bản khai ngày 27/6/2024:
Chị và anh Trần Đ hay trước khi kết hôn anh có thời gian tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013, đến năm 2014 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn do khó khăn về kinh tế.
Nay anh H yêu cầu ly hôn, chị đồng ý vì vợ chồng không còn tình cảm, không còn trách nhiệm với nhau.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Trần Lê Đại P1, sinh ngày 13/01/2014, ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng (hai triệu đồng).
Về tài sản chung: Chị và anh H tự giải quyết, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị: Áp dụng Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Đức H được ly hôn chị Lê Thị Ngọc P; Giao con chung Trần Lê Đại P1, sinh ngày 13/01/2014 cho chị P nuôi dưỡng; Buộc anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng (hai triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Án phí HNGĐ: Anh Trần Đức H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn và 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Trần Đức Hay 1 nguyên đơn trong vụ án, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên Tòa hôm nay. Do đó căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự thì Hội dồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung: Anh Trần Đức H và chị Lê Thị Ngọc P có thời gian tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013, sau khi anh chị có con chung thì đến ngày 10/7/2014 anh chị mới đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố Q, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, theo anh H trình bày thì nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm. Năm 2022 anh đã có đơn xin ly hôn chị P nhưng được Toà động viên, phân tích nên anh đã rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên sau khi anh rút đơn ly hôn đến nay cuộc sống vợ chồng vẫn không cãi thiện, vẫn tiếp tục mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi, hiện nay vợ chồng sống chung một nhà nhưng mạnh ai nấy sống, tình cảm trách nhiệm với nhau không còn nên anh yêu cầu được ly hôn chị Lê Thị Ngọc P để ổn định cuộc sống.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị Ngọc P không hợp tác mặc dù chị đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải của Toà án nhưng chị không đến Toà khai báo, làm việc. Tuy nhiên đến ngày 27/6/2024 chị có bản khai tại Toà và chị đồng ý ly hôn anh Trần Đức H vì chị cho rằng tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh Trần Đức H được ly hôn chị Lê Thị Ngọc P là phù hợp với Điều 51, 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Anh H và chị P có một con chung là Trần Lê Đại P1, sinh ngày 13/01/2014. Ly hôn, anh H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con. Còn chị P thì yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng (hai triệu đồng).
Tòa xét: Việc nuôi con sau khi ly hôn phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu. Theo chị P khai báo thì hiện nay anh H đi làm ăn xa, con chung thì đang sống với chị. Do đó HĐXX xét thấy nên tiếp tục giao cháu Trần Lê Đại P1 cho chị P nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu P1.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Chị P yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng (hai triệu đồng).
Toà xét: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Hiện nay anh Hay là lao động phổ thông, mức thu nhập không ổn định, tuy nhiên chị P dựa vào các nhu cầu thiết yếu của cháu Trần Lê Đại P1 nên chị chỉ yêu cầu anh H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đồng (hai triệu đồng). HĐXX xét thấy yêu cầu của chị P là phù hợp, do đó buộc anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng.
[4] Về tài sản chung: Anh H, chị P không yêu cầu, Tòa không giải quyết.
[5] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì anh Trần Đức H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Đức H được ly hôn chị Lê Thị Ngọc P.
-
Về con chung, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:
- Về con chung: Anh Trần Đức H và chị Lê Thị Ngọc P có một con chung là Trần Lê Đại P1, sinh ngày 13/01/2014.
- Về nuôi con: Giao cháu Trần Lê Đại P1, sinh ngày 13/01/2014 cho chị P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Trần Đức H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đồng (hai triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung: Anh Trần Đức H và chị Lê Thị Ngọc P không yêu cầu, Tòa không giải quyết.
- Về án phí: Anh Trần Đức H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.0000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000741 ngày 04/4/2024 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Q. Anh H còn phải nộp 300.000đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận : - VKSND Tp.Quy Nhơn; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Ngọc Lan |
Bản án số 617/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 617/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRẦN ĐỨC H - LÊ THỊ NGỌC P
