TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 616/2023/HS-PT Ngày: 25/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Văn Yên |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Thanh Dũng Ông Phạm Trí Tuấn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 274/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 do có kháng kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Trùng D, sinh năm 1994; Nơi thường trú: A20.01 khu dân cư H, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do; Cha: Nguyễn Thành N; Mẹ: Nghê Thị Kim A; Vợ: Trần Thị Kiều H; sinh năm 1996, nghề nghiệp: nội trợ; Con 01 người sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không.
- Bị can bị tam giữ từ ngày 03/06/2022 và chuyển tạm giam tại Trại tạm giam C. Ngày 29/12/2022 được Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH T1 do ông Chun Byung K (quốc tịch Hàn Quốc) làm Tổng Giám đốc ngành nghề kinh doanh siêu thị E có bán hàng trực tuyến trên APP siêu thị E của Công ty. Công ty có chấp nhận hình thức thanh toán đơn hàng bằng hình thức dùng tài khoản thanh toán quốc tế qua trung gian là Ngân hàng S. Trong thời gian kinh doanh, Công ty được Ngân hàng S thông báo nhiều giao dịch thanh toán mua hàng của siêu thị E thanh toán bằng tài khoản thanh toán quốc tế có đơn khiếu nại của chủ thẻ và Công ty P1 trả tiền lại cho ngân hàng T2 là S. Qua kiểm tra các đơn hàng, Công ty xác định các đối tượng sử dụng thẻ Visa Credit (thẻ ghi nợ quốc tế, thanh toán trước trả tiền sau) do Ngân hàng nước ngoài (L1- A, Ban K1, China Everrbriht B-Trung Quốc và Nova Ljublianska Bankka D) phát hành cho người nước ngoài để thanh toán mua hàng và yêu cầu siêu thị giao hàng đến các địa chỉ:
- - 270/36 Đinh Bộ Lĩnh, Phường 26, quận Bình Thạnh
- -12/2E Quang Trung, Phường 14, quận Gò Vấp
- - 208 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường 22, quận Bình Thạnh
- - 278/20 Nguyễn Xí, Phường 13, quận Bình Thạnh
- - 48 Cao Bá Nhã, phường Nguyễn Cư Trinh, quận Bình Thạnh
- - 155 Nguyễn Cư Trinh, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1
Công ty đã gửi đơn tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H. C đã tiến hành điều tra phát hiện Nguyễn Trùng D, Nguyễn B1 đã đặt hàng của siêu thị thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và ra lệnh bắt khẩn cấp. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H các bị can đã khai nhận:
Vào cuối tháng 3/2022 Nguyễn Trùng D tham gia nhóm chat của nước ngoài trong ứng dụng mạng xã hội Telegram thì thấy có giới thiệu trang website: briansclub của nhóm đối tượng nước N1 lập chuyên xâm nhập mạng ngân hàng các nước lấy trộm thông tin tài khoản thanh toán quốc tế của nhiều người, các đối tượng này được gọi là hacker rồi rao bán trên trang website briansclub.com, ai cần mua thông tin tài khoản thẻ thanh toán quốc tế thì vào trang web đặt mua với giá từ 10USD đến 70USD/thẻ gồm thẻ có mã OTP và không có mã OTP. Sau đó D sử dụng máy vi tính, điện thoại di động của D kết nối mạng Wifi, mạng 4G mua hơn 30 thông tin các thẻ thanh toán quốc tế và sử dụng mua hàng các siêu thị trực tuyến ở Việt Nam nhưng chỉ có siêu thị E có áp dụng hình thức thẻ thanh toán quốc tế. D đã tải và cài đặt ứng dụng APP của siêu thị E về máy vi tính và điện thoại di động rồi đăng ký mở các tài khoản ‘JASON NGUYEN”, “TAM NGUYEN”, “DUONG” và 01 số tài khoản khác D không nhớ tên rồi sử dụng thẻ thanh toán mua được trên trang mạng để thanh toán tiền các đơn hàng do D mua ở siêu thị E. Do siêu thị chỉ nhận giao hàng khu vực gần siêu thị có quận B, Quận A.
D nhờ Nguyễn Đại Đ địa chỉ 2 N, Phường A, quận B và Lương Trung T địa chỉ 2 Đ, Phường B, quận B nhận hàng giúp D. Còn D trực tiếp nhận hàng tại địa chỉ D C, phường N, Quận A. D nói với Đ và T nếu cần mua hàng thì lấy tài khoản của D mua thêm bỏ vào giỏ hàng, D sẽ thanh toán tiền. Khi nhận hàng thì Đ và T lấy phần hàng của mình rồi chuyển phần hàng còn lại cho D. D không nói cho T và Đ biết việc sử dụng tài khoản không chính chủ để mua hàng. D trực tiếp mua của siêu thị E 56 đơn hàng với số tiền là 187.145.416 đồng.
Nguyễn Bửu quen biết với Nguyễn Trùng D, biết D thực hiện phương thức, thủ đoạn phạm tội. B1 sử dụng máy vi tính, điện thoại di động có kết nối mạng wifi vào trang web mua nhiều thông tin tài khoản quốc tế tạo nhiều tài khoản trên APP siêu thị E mua hàng rồi sử dụng thẻ thanh toán quốc tế không chính chủ để thanh toán tiền mua hàng. Bửu nhờ mẹ ruột tên Đào Thị Cẩm L địa chỉ 1 Q, Phường A, quận G nhận hàng; bạn tên Lê Quốc H1 địa chỉ A N, Quận A nhận hàng, bạn tên Đặng Công P địa chỉ Vinhomes C nhận hàng giúp. Số hàng hóa mua được, B1 để sử dụng 01 phần, phần còn lại bán cho các đối tượng không rõ lai lịch rẻ hơn từ 20-30% để thu lợi. B1 không nói cho bà L, H1, P biết việc dùng tài khoản không chính chủ thanh toán tiền mua hàng. Bửu đã mua 25 đơn hàng với số tiền 113.366.200 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HSST ngày 10-3-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trùng D: 03 (Ba) năm tù, về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/06/2022 đến ngày 29/12/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm hình phạt đối với bị cáo Nguyễn B1, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20-3-2023, bị cáo Nguyễn Trùng D có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Trùng D vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do: bị cáo thấy hối hận về hành vi của mình, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phía hại hại cũng đã có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố mẹ bị cáo đã ly hôn, bị cáo sống với mẹ, hiện mẹ bị cáo đã nghỉ hưu, con bị cáo còn nhỏ. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nghề nghiệp ổn định, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HSST ngày 10-3-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên bị cáo phạm tôi nhiều lần nhưng thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, lần phạm tội nhiều nhất là 06 triệu, lần ít nhất là 05 triệu, quá trình tại ngoại bị cáo cũng không có vi phạm phạm luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình nghị án.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bán án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Trùng D bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ” theo điểm đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự. Bị cáo D kháng cáo xin hưởng án treo, bị cáo Nguyễn Bửu k kháng cáo.
[1] Nội dung: Tại phiên Tòa, bị cáo không khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm được tóm tắt nêu trên.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử: Đây là vụ án “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” do các bị cáo Nguyễn Trùng D và Nguyễn B1 thực hiện. Các bị cáo đã sử dụng máy vi tính, điện thoại di động có kết nối mạng wifi, 4G để mua nhiều thông tin tài khoản thanh toán quốc tế không chính chủ của các đối tượng không rõ lai lịch trên trang mạng, rồi sử dụng để thanh toán tiền đơn hàng khi mua hàng trên APP siêu thị E. Bị cáo Nguyễn Trùng D đã chiếm đoạt số tiền là 187.145.416 đồng, bị can Nguyễn B1 đã chiếm đoạt số tiền là 113.366.200 đồng. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trùng D và Nguyễn B1 đã cấu thành tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 290 Bộ Luật Hình sự mà cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Trùng D thì thấy: sau khi phạm tội bị cáo D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã nộp toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt để khắc phục hoàn toàn hậu quả. Trong quá trình tại ngoại bị cáo D không vi phạm pháp luật, cho nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo với đời sống xã hội, nhằm tạo điều kiện để bị cáo lao động để nuôi sống gia đình cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
[3] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HS-ST ngày 10/03/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trùng D.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trùng D phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1,khoản 2 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ Luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trùng D 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Trùng D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Các thẩm phán | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
Hoàng Thanh Dũng Phạm Trí Tuấn | Phan Văn Yên |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên |
Bản án số 616/2023/HS-PT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 616/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm.
