Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 616/2021/HNGĐ-PT
Ngày 19-11-2021
V/v Tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Lệ Uyên; Bà Lưu Thị Thủy Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2021/TLPT-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Do bản án sơ thẩm số 1533/2021/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3938/2021/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1985. (Có mặt)
    Hộ khẩu thường trú: Số 474/3 đường T, Phường H, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Địa chỉ tạm trú: Số 508/24 đường C, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm 1978. (Có mặt)
    Hộ khẩu thường trú: Số 474/3 đường T, Phường H, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Địa chỉ tạm trú: Nhà không số, kế nhà số 111, đường Số B, Tổ N, Khu phố T, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn - ông Nguyễn Tiến T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Tiến T chung sống với nhau do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn số 58, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/04/2009.

Quá trình chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do áp lực từ phía chồng và mẹ chồng; tuy đã có vợ con nhưng ông T vẫn chăm lo cho cha mẹ, anh em quá mức bình thường mà quên đi sự chăm lo, vun vén cho hạnh phúc riêng, bà không cảm nhận được sự bảo vệ, yêu thương từ chồng; bản thân ông T không có niềm tin đối với bà, ghen tuông vô cớ, bà luôn sống trong tâm trạng đối phó, trầm cảm. Từ tháng 8/2017 đến nay bà và ông T đã tự sống ly thân. Nay bà xin được ly hôn để ổn định tinh thần và cuộc sống.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Tiến T có hai con chung tên Nguyễn Phúc An K1, sinh ngày 16/12/2009 và Nguyễn Phúc Long K2, sinh ngày 25/02/2013. Bà N xác định từ khi sinh hai con đến nay bà luôn là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các con chung. Bà có công việc ổn định, thu nhập mỗi tháng trên hai mươi lăm triệu đồng. Bà có chỗ ở ổn định, có ông bà ngoại hỗ trợ trông nom và chăm sóc con khi bà đi làm. Bà xác định đủ khả năng nuôi cả hai con và mong muốn được nuôi cả hai con nhưng để hài hòa cho cả hai bên bà đồng ý mỗi người nuôi một con, bà yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Phúc Long K2, sinh ngày 25/02/2013 và giao con chung tên Nguyễn Phúc An K1, sinh ngày 16/12/2009 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim N xác nhận bà và ông Nguyễn Tiến T không có nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Tiến T trình bày:

Việc chung sống và kết hôn đúng như bà N trình bày. Quá trình chung sống bà N bộc lộ nhiều điểm chưa tốt khiến ông và gia đình của ông không hài lòng cụ thể: Từ khi kết hôn với ông đến nay bà N không có bất cứ hành động, cư xử nào với gia đình chồng thể hiện trách nhiệm của người dâu con trong nhà, ngược lại luôn đòi hỏi mọi việc phải theo ý bà N; không ngần ngại tỏ thái độ mâu thuẫn với mẹ chồng, với cả gia đình chồng; bà N không chung thủy, thời gian chung sống với ông vẫn qua lại với những người đàn ông khác. Từ năm 2017 đến nay ông và bà N sống ly thân, ông đã tìm mọi cách để vợ chồng về đoàn tụ nhưng bà N đều không chấp nhận. Tại tòa hôm nay ông xác định tuy cuộc sống chung có những mâu thuẫn bất hòa đã nêu ở trên nhưng ông vẫn thấy hạnh phúc, vẫn mong muốn vợ chồng bỏ qua những lỗi lầm, trở về đoàn tụ, ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Hai bên có hai người con chung như bà N trình bày. Nếu phải ly hôn ông đề nghị được nuôi cả hai con, không yêu cầu bà N cấp dưỡng. Lý do ông không đồng ý để bà N nuôi con vì: Bà N không độc lập trong việc nuôi dạy con mà phụ thuộc nhiều vào cha mẹ; cha mẹ bà N tuy rất thương cháu nhưng lại rất nóng tính hay gây gổ, cãi nhau nên các con ở chung trong môi trường đó không tốt; bà N là người chính kiến không rõ ràng, không kiên định, dễ đổi ý khi có sự tác động bên ngoài; là người đạo đức không tốt do không chung thủy, nếu trực tiếp nuôi con sẽ là tấm gương không tốt.

Về tài sản chung: Ông Nguyễn Tiến T xin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông và bà N không có nợ chung.

Tại bản án sơ thẩm số 1533/2021/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Tiến T.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phúc An K1, sinh ngày 16/12/2009 cho ông Nguyễn Tiến T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao con chung tên Nguyễn Phúc Long K2, sinh ngày 25/02/2013 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

1/ Về tố tụng: Ngày 04/06/2021, Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa sơ thẩm, cùng ngày ông T kháng cáo một phần bản án và đã tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đơn kháng cáo của ông T làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét.

2/ Về nội dung kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Tiến T yêu cầu sửa bản án sơ thẩm để ông được nuôi cả hai con chung. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét: Căn cứ vào Giấy đăng ký kết hôn số 58, Quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/04/2009 cho bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Tiến T thì quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T được pháp luật công nhận là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về con chung: Tại quyết định Tòa cấp sơ thẩm giao con chung tên Nguyễn Phúc An K1 cho ông T và Nguyễn Phúc Long K2 cho bà N là có căn cứ nên chưa có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tiến T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Tiến T. Quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà N chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực thi hành.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phúc An K1, sinh ngày 16/12/2009 cho ông Nguyễn Tiến T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao con chung tên Nguyễn Phúc Long K2, sinh ngày 25/02/2013 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND thành phố T;
- Chi cục THADS thành phố T;
- Các đương sự;
- Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Võ Thị Mỹ Hạnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 616/2021/HNGĐ-PT ngày 19/11/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 616/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim N yêu cầu ly hôn với bị đơn là ông Nguyễn Tiến T. Có tranh chấp về con chung. Về tài sản chung tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung các bên xác nhận không có,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger