Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 616/2025/DS-PT

Ngày 04-6-2025

Về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Ông Vũ Bảo Nguyên

Các Thẩm phán :

  1. Ông Đào Hồng Cảnh
  2. Bà Đỗ Thanh Hương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thái Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 301/2025/DSPT ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà"

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DSST ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1986/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 6553/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Anh T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Số F N, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  • Bà Nguyễn Quỳnh Diễm Á (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số F N, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Ông Ngô Đức T1 (Có mặt)
  • Địa chỉ: 9 Đường số G Cư xá Đ, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

(HĐUQ số 06170, quyển số 04/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/4/2024)

2. Bị đơn: Bà Phan Thị Yến P, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Số D T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng L (Có mặt)

Địa chỉ: Số D T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

(GUQ số 007975, quyển số: 08/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/08/2024)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1975 (Có mặt)

Địa chỉ: Số D T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do có kháng cáo của bị đơn Phan Thị Yến P.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 04 năm 2024 và bản tự khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 22/3/2019, nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng thuê nhà ở, đất ở tại địa chỉ 4 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời hạn thuê nhà 03 năm (tính từ ngày 22/3/2019 đến hết ngày 21/3/2022), giá thuê nhà 5.000.000 đồng/tháng, giá thuê tăng 10% mỗi năm, bị đơn có đặt cọc cho nguyên đơn 36.000.000 đồng.

Đến tháng 3/2021, hai bên thỏa thuận tiền thuê mỗi tháng 10.000.000 đồng được tính đến hết tháng 3/2022. Hết thời hạn cho thuê nguyên đơn thông báo thanh lý hợp đồng thuê nhà. Tuy nhiên, bị đơn viện cớ chưa tìm được nhà để thuê và mong muốn tiếp tục thuê nhà nhưng nguyên đơn không đồng ý, bị đơn vẫn tiếp tục sử dụng nhà thuê nêu trên và trả tiền thuê 12.000.000 đồng/tháng đến hết tháng 11/2023. Từ tháng 12/2023 đến nay bị đơn không thanh toán tiền thuê nhà cho nguyên đơn.

Tại phiên hòa giải ngày 16/10/2024, đại diện nguyên đơn cho rằng do bị đơn vi phạm hợp đồng nên không hoàn trả tiền cọc 36.000.000 đồng cho bị đơn nhưng không làm đơn khởi kiện bổ sung nên Tòa án không thụ lý yêu cầu này.

Tại phiên tòa ngày 25/12/2024 nguyên đơn sửa đổi một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án:

  • Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê nhà ngày 22/3/2019, buộc bà P, ông L và những người đang cư trú giao trả căn nhà tại địa chỉ 4 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Buộc bà P thanh toán tiền thuê nhà từ ngày 22/12/2023 đến 22/12/2024 là 12 tháng x 12.000.000 đồng/tháng = 144.000.000 đồng, trừ đi tiền cọc 36.000.000 đồng còn 108.000.000 đồng (rút yêu cầu thanh toán tiền thuê tháng 11/2023).
  • Bà P phải tiếp tục thanh toán tiền thuê nhà từ 23/12/2024 cho đến khi bàn giao lại nhà cho bà Nguyễn Anh T.

Theo bản tự khai và đơn phản tố ngày 19/08/2024, đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Bị đơn thống nhất với trình bày của nguyên đơn về nội dung hợp đồng thuê nhà. Theo hợp đồng giá thuê nhà 5.000.000 đồng/tháng, giá thuê tăng 10% mỗi năm nhưng thực tế bà P trực tiếp chuyển tiền nhà cho bà T 12.000.000 đồng/tháng từ thời điểm bắt đầu thuê nhà (từ tháng 03/2019 đến tháng 12/2023). Bà P không có bất kỳ thỏa thuận nào với bà T về giá của hợp đồng thuê nhà tăng lên 10.000.000 đồng/tháng, 12.000.000 đồng/tháng như đại diện nguyên đơn trình bày.

Tại phiên tòa, bị đơn đồng ý với yêu cầu khởi kiện chấm dứt Hợp đồng thuê nhà ngày 22/3/2019 và trả lại nhà cho nguyên đơn, hai yêu cầu còn lại bị đơn không đồng ý và có yêu cầu phản tố: Đề nghị Tòa án buộc bà T trả lại số tiền thuê nhà bà P đã chuyển dư theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê nhà (12.000.000 đồng/tháng – 5.000.000 đồng/tháng = 7.000.000 đồng/tháng) từ tháng 03/2019 đến tháng 11/2023 với số tiền là 196.937.500 đồng và trả lại số tiền đặt cọc 36.000.000 đồng.

Tại phiên tòa ngày 02/01/2025, bị đơn sửa đổi, rút một phần yêu cầu phản tố như sau:

  • Rút yêu cầu đối với phần tiền cọc 36.000.000 đồng.
  • Về tiền thuê nhà trả dư, bị đơn yêu cầu số tiền là 156.937.500 đồng (trừ đi 40.000.000 đồng do có những tháng bị đơn chỉ trả 10.000.000 đồng).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Hoàng L thống nhất với lời khai của bị đơn tại phiên tòa.

Ý kiến tranh luận của đại diện nguyên đơn: Bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Ý kiến tranh luận của đại diện bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có ý kiến tranh luận, giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại phiên tòa.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DSST ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

“Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    • - Tuyên bố hợp đồng thuê nhà ngày 22/3/2019 giữa bên cho thuê bà Nguyễn Anh T và bên thuê bà Phan Thị Yến P chấm dứt kể từ ngày 22/3/2022; Buộc bị đơn bà Phan Thị Yến P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng L và những người đang cư trú phải di dời, trả lại căn nhà số D T, Phường A, Quận A cho nguyên đơn bà Nguyễn Anh T.
    • - Buộc bị đơn bà Phan Thị Yến P phải trả tiền thuê nhà cho nguyên đơn bà Nguyễn Anh T từ ngày 23/12/2023 đến ngày 22/12/2024 với giá 12.000.000 đồng/tháng là 144.000.000 đồng, cấn trừ vào tiền cọc 36.000.000 đồng, bà Phan Thị Yến P phải thanh toán cho bà Nguyễn Anh T số tiền 108.000.000 (một trăm lẻ tám triệu) đồng.
    • - Bị đơn bà Phan Thị Yến P phải tiếp tục trả tiền thuê nhà cho nguyên đơn bà Nguyễn Anh T đến khi bàn giao nhà với giá 12.000.000 đồng/tháng.
  2. Về yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phan Thị Yến P:
    • - Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phan Thị Yến P về việc buộc nguyên đơn bà Nguyễn Anh T trả lại số tiền thuê nhà đã chuyển dư là 156.937.500 (một trăm năm mươi sáu triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.
    • - Đình chỉ yêu cầu phản tố đòi tiền cọc 36.000.000 đồng của bị đơn.”

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo theo luật định.

-Ngày 14/01/2025 bà Phan Thị Yến P có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hoàng L nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xử sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn: bà Nguyễn Anh T có ông Ngô Đức T1 là đại diện hợp pháp có ý kiến:

Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử y án sơ thẩm.

Bị đơn: bà Phan Thị Yến P có ông Nguyễn Hoàng L là đại diện hợp pháp có ý kiến:

-Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu phản tố đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử chấp nhận kháng cáo.

*Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng:

[1.1].Đơn kháng cáo của bà Phan Thị Yến P nộp trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp thuận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.2].Về quan hệ pháp luật tranh chấp, quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và người tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng.

[1.3].Về sự có mặt của đương sự.

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn là bà Nguyễn Quỳnh Diễm Á có đơn yêu cầu được vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt người có yêu cầu.

[2].Xét kháng cáo của bị đơn Phan Thị Yến P.

[2.1].Căn cứ Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được lập ngày 22/3/2019 tại Văn phòng C, có cơ sở xác định: Ngày 22/3/2019, nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng thuê nhà ở, đất ở tại địa chỉ 4 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời hạn thuê nhà 03 năm (tính từ ngày 22/3/2019 đến hết ngày 21/3/2022). Hết thời hạn cho thuê, bà T thông báo thanh lý hợp đồng thuê nhà nhưng bà P vẫn sử dụng nhà, không bàn giao cho bà T.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê nhà trên và bàn giao nhà lại cho nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê nhà trên từ ngày 22/3/2022 và bàn giao nhà lại cho nguyên đơn.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận nội dung khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê nhà ngày 22/3/2019; buộc bà P, ông L và những người đang cư trú giao trả căn nhà tại địa chỉ 4 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho nguyên đơn là có căn cứ.

[2.2].Về yêu cầu buộc bà P thanh toán tiền thuê nhà từ 22/12/2023 đến 22/12/2024 là 144.000.000 đồng, trừ đi tiền cọc 36.000.000 đồng còn 108.000.000 đồng và tiền thuê nhà tiếp tục phát sinh cho đến khi bị đơn giao nhà.

Đối chiếu lời khai, lập luận của các bên đương sự, Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được lập ngày 22/3/2019, các tài liệu sao kê tài khoản của Ngân hàng Đ cung cấp cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do các bên đương sự cung cấp, thể hiện:

- Khoản 1 Điều 4 của hợp đồng ghi giá thuê nhà là 5.000.000 đồng/tháng, giá thuê tăng 10% mỗi năm. Sau đó hai bên điều chỉnh giá phù hợp với tình hình thực tế.

Năm thứ nhất, từ ngày ký hợp đồng đến tháng 3/2020 giá thuê là 5.000.000 đồng. Năm thứ hai, giá thuê nhà tăng 5.500.000 đồng. Hình thức thanh toán là trả tiền mặt hoặc chuyển khoản do hai bên thỏa thuận.

Tuy nhiên, từ tháng 3/2021, hai bên thỏa thuận giá thuê nhà mỗi tháng là 10.000.000 đồng được tính đến khi kết thúc hợp đồng. Thực tế, phía bị đơn đã thanh toán tiền thuê nhà 10.000.000 đồng/tháng trong thời gian này.

Hết thời hạn hợp đồng thuê nhà, nguyên đơn lấy lại nhà nhưng bị đơn vẫn muốn tiếp tục thuê và thỏa thuận giá thuê là 12.000.000 đồng/tháng. Giá thuê nhà 12.000.000 đồng/tháng được bị đơn thanh toán cho đến tháng 11/2023 thì ngưng, phương thức thanh toán: Tiền mặt và chuyển khoản (từ tháng 6/2023 đến tháng 11/2023 chuyển khoản qua Ngân hàng V). Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn trả nhà.

Ngày 15/4/2024, chồng bà P là ông Nguyễn Hoàng L lập Biên bản thỏa thuận trả nhà, hứa trả nhà trước ngày 30/6/2024 nhưng phía bà P không thực hiện đúng thỏa thuận.

[2.3].Theo phân tích tai Mục [2.2], có cơ sở xác định giá thuê nhà các bên thỏa thuận lại giá thuê nhà sau khi hết hạn hợp đồng thuê là 12.000.000 đồng/tháng.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận nội dung khởi kiện trên của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán tiền thuê nhà từ ngày 23/12/2023 đến ngày 22/12/2024 là 12 tháng x 12.000.000 đồng/tháng = 144.000.000 đồng nhưng được cấn trừ trực tiếp khoản tiền cọc (36.000.000 đồng) của bị đơn vào tiền thuê nhà và bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền thuê nhà kể từ ngày 23/12/2024 cho đến khi bàn giao nhà cho nguyên đơn với giá thuê là 12.000.000 đồng/tháng là hợp lý và có căn cứ.

[2.4].Về yêu cầu phản tố của bị đơn.

[2.4.1]. Đối với yêu cầu phản tố đòi lại số tiền đặt cọc 36.000.000 đồng.

Bị đơn đã rút yêu cầu khởi kiện nội dung này, việc rút yêu cầu là tự nguyện nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này là đúng quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.4.2].Về yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn trả lại số tiền thuê nhà bị đơn đã chuyển dư theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê nhà, với tổng số tiền là 156.937.500 đồng.

Xét thấy:

Bị đơn khai trả tiền thuê nhà là 12.000.000 đồng/tháng suốt quá trình thuê nhà nhưng không có chứng cứ chứng minh. Tại phiên tòa ngày 25/12/2024, Tòa án cấp sơ thẩm đã tạm dừng phiên tòa để bị đơn thu thập chứng cứ chứng minh nhưng bị đơn không cung cấp được chứng cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Đồng thời, theo phân tích tại Mục [2.2], có cơ sở xác định yêu cầu phản tố trên của bị đơn là không có căn cứ.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc bà T trả lại số tiền thuê nhà bà P đã chuyển dư theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê nhà là 156.937.500 đồng là có căn cứ.

[3].Các nội dung khác Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật nên giữ nguyên.

[4].Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc kháng cáo là có cơ sở, Hội đồng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 02/01/2025 của Tòa án nhân dân Quận 10.

[5].Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thống nhất với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6].Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

-Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Yến P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    • - Tuyên bố hợp đồng thuê nhà ngày 22/3/2019 giữa bên cho thuê bà Nguyễn Anh T và bên thuê bà Phan Thị Yến P chấm dứt kể từ ngày 22/3/2022; Buộc bị đơn bà Phan Thị Yến P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng L và những người đang cư trú phải di dời, trả lại căn nhà số D T, Phường A, Quận A cho nguyên đơn bà Nguyễn Anh T.
    • - Buộc bị đơn bà Phan Thị Yến P phải trả tiền thuê nhà cho nguyên đơn bà Nguyễn Anh T từ ngày 23/12/2023 đến ngày 22/12/2024 với giá 12.000.000 đồng/tháng là 144.000.000 đồng, cấn trừ vào tiền cọc 36.000.000 đồng, bà Phan Thị Yến P phải thanh toán cho bà Nguyễn Anh T số tiền 108.000.000 (một trăm lẻ tám triệu) đồng.
    • - Bị đơn bà Phan Thị Yến P phải tiếp tục trả tiền thuê nhà cho nguyên đơn bà Nguyễn Anh T đến khi bàn giao nhà với giá 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng)/tháng.
  2. Về yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phan Thị Yến P:
    • - Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phan Thị Yến P về việc buộc nguyên đơn bà Nguyễn Anh T trả lại số tiền thuê nhà đã chuyển dư là 156.937.500 (một trăm năm mươi sáu triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm nghìn) đồng.
    • - Đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố đòi tiền cọc 36.000.000 (ba mươi sáu triệu) đồng của bị đơn.
  3. Nguyên đơn bà Nguyễn Anh T tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (năm triệu) đồng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Phan Thị Yến P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sau:

    • + Án phí không có giá ngạch: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
    • + Án phí trên số tiền nguyên đơn được chấp nhận: 5.400.000 (năm triệu bốn trăm nghìn) đồng.
    • + Án phí trên yêu cầu phản tố không được chấp nhận: 7.846.875 (bảy triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn tám trăm bảy mươi lăm) đồng.

    Nhưng được trừ vào số tiền 4.923.438 (bốn triệu chín trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm ba mươi tám) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0020485 ngày 26/08/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P phải nộp thêm 8.623.437 (tám triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm ba mươi bảy) đồng.

    - Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Anh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0020163 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị Yến P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà P đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0075251 ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận 10;
  • - Chi cục THADS Quận 10, TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Bảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 616/2025/DS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thuê nhà

  • Số bản án: 616/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê nhà và thanh toán tiền thuê nhà còn lại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger