Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 616/2024/HS-ST

Ngày: 05/12/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng.
  2. Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu M- Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 544/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: điểm cầu Trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ- Công an thành phố Thủ Đức theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 652/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Hoài T (tên gọi khác: không), sinh năm: 1991 tại Lâm Đồng; thường trú: 421 đường T, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: nhân viên kiểm toán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh T1 và bà: Trần Thị M1; hoàn cảnh gia đình: có chồng và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không;

Bị tạm giam từ ngày 20/6/2024 đến nay. (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Chị Nguyễn Thùy T2, sinh năm: 1994;

Địa chỉ: A- A đường A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Kim L, sinh năm: 1987;

Địa chỉ: D đường F, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc Hoài T và Nguyễn Thùy T2 là bạn bè quen biết, T biết chị T2 có tiền nhàn rỗi và có nhu cầu đầu tư mua bán chứng khoán nhưng không có tài khoản và không rành nên sợ thua lỗ. Do bản thân đang cần tiền để xoay vòng vốn làm ăn, T nảy sinh ý định lấy tiền của T2 để phục vụ cho mục đích cá nhân của mình. T nói với T2 chuyển tiền cho mình để đầu tư chứng khoán và chơi coin (là một dạng tiền kỹ thuật số, được coi tương đương với tiền tệ) kiếm tiền giúp T2.

Để tạo niềm tin, T nói với T2 đầu tư mua cổ phiếu mã BSR thuộc Công ty cổ phần L2, sau 03 ngày sẽ chốt bán và tỷ lệ lời là 10%. Tin tưởng lời T nói, ngày 07/9/2023, T2 sử dụng tài khoản số 7942127 của Ngân hàng A mang tên Trần Kim L chuyển số tiền 200.000.000 đồng đến số tài khoản 7474726868 Ngân hàng T3 mang tên Nguyễn Ngọc Hoài T để mua cổ phiếu BSR. Sau khi nhận được tiền trên, T đã sử dụng chi tiêu cho mục đích cá nhân. Do tiếp tục cần tiền để tiêu xài cá nhân, ngày 10/9/2023 T tiếp tục nhắn tin cho chị T2 và đưa ra thông tin đầu tư mua coin sẽ lời hơn chứng khoán như “hôm qua nó nhảy hơn chứng lụm 40 củ”, “chơi thì chị em mình mua chung chia lời 5/5”, “giờ chơi 150 thứ 5 về 180”... để chị T2 tin tưởng. Do tin lời T nói, T2 tiếp tục chuyển số tiền 100.000.000 đồng cho T để đầu tư mua coin. Sau khi nhận được tiền do chị T2 chuyển, T không mua coin như đã nói với chị T2 mà lại tiếp tục lấy tiền của chị T2 để tiêu xài cá nhân. Để tạo niềm tin cho chị T2, ngày 18/9/2023 Thanh tự tính toán phần lợi nhuận và dùng tiền cá nhân chuyển cho chị T2 số tiền 17.180.000 đồng và nói với chị T2 đây là tiền lời khi đầu tư cổ phiếu và coin thu được.

Đến ngày 20/9/2023, T nói với chị T2 cần tiền để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng nên nói T2 chuyển số tiền 150.000.000 đồng và hứa sẽ trả lại vào ngày 22/9/2023, tiền lãi là 5.000.000 đồng. T2 sử dụng tài khoản số 7942127 của Ngân hàng A mang tên Trần Kim L chuyển số tiền 150.000.000 đồng đến số tài khoản 9909079885 Ngân hàng V của Nguyễn Ngọc Hoài T. Sau khi nhận được số tiền trên, T tiếp tục sử dụng vào mục đích cá nhân.

Sau nhiều lần liên hệ để yêu cầu trả lại số tiền đã đầu tư nhưng T không trả và cố tình trốn tránh. Ngày 12/10/2023, chị T2 đến Công an thành phố T làm đơn tố cáo Nguyễn Ngọc Hoài T về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ngày 20/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T thi hành Lệnh Bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Ngọc Hoài T. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm như trên.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc Hoài T đã trả lại cho T2 số tiền 220.000.000 đồng, T2 yêu cầu T bồi thường số tiền còn lại là 230.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 506/CT-VKSTPTĐ ngày 17/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài T. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài T; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài T từ 10 năm đến 11 năm tù giam;

- Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại Nguyễn Thùy T2 trình bày: Chị T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài T; chị T2 yêu cầu bị cáo hoàn trả lại cho chị T2 số tiền 212.820.000 đồng; về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo quy định pháp luật;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Bị cáo và bị hại Nguyễn Thùy T2 có mối quan hệ bạn bè, bị cáo biết chị T2 có nguồn tiền nhàn rỗi nên bằng thủ đoạn gian dối bị cáo rủ chị T2 mua cổ phiếu mã BSR của Công ty cổ phần L2 và mua coin (là loại tiền điện tử được phát hành trên nền tảng blockchain), hứa hẹn với chị T2 là sinh lời nhanh và bị cáo rất am hiểu về lĩnh vực này để tạo lòng tin cho chị T2 chuyển tiền cho bị cáo và chiếm đoạt tiền của chị T2. Chị T2 tin tưởng bị cáo đã thông qua tài khoản Ngân hàng TMCP Á (gọi tắt là Ngân hàng Á) số 7942127 mang tên Tran Kim L1 (là chị họ của chị T2), chị T2 đã nhờ chị L1 chuyển khoản tiền cho bị cáo cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 07/9/2023, chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng TMCP K (gọi tắt là Ngân hàng T3) số 7474726868 mang tên Nguyen Ngoc Hoai Thanh;

Lần 2: Ngày 10/9/2023, chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng V số 9909079885 mang tên Nguyen Ngoc Hoai Thanh;

Lần 3: Ngày 20/9/2023, bị cáo liên lạc với chị T2 vay số tiền 150.000.000 đồng với mục đích vay là bị cáo làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng, thời hạn vay là ngày 23/9/2023, tiền lãi là 5.000.000 đồng. Tin tưởng lời trình bày của bị cáo, thông qua tài khoản Ngân hàng Á số 7474726868 mang tên Tran Kim L1, chị T2 nhờ chị L1 đã chuyển khoản số tiền 150.000.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng V số 9909079885 mang tên Nguyen Ngoc Hoai Thanh; tuy nhiên; bị cáo không sử dụng đúng mục đích số tiền vay mà chỉ sử dụng 60.000.000 đồng làm dịch vụ đáo hạn, số tiền còn lại bị cáo tiêu xài cá nhân;

Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối tạo lòng tin của chị T2 để chiếm đoạt số tiền 450.000.000 đồng và không sử dụng đúng số tiền như đã cam kết với chị T2 mà chiếm đoạt sử dụng với mục đích xoay vòng vốn và tiêu xài cá nhân; ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ chứng minh bị cáo đã sử dụng số tiền 60.000.000 đồng làm dịch vụ đáo hạn;

Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, tang vật chứng thu giữ được trong quá trình điều tra. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 450.000.000 đồng. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 của điều luật đã viện dẫn.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tình tiết phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã trả lại một phần cho bị hại số tiền 220.000.000 đồng đồng; bị cáo phạm tội lần đầu; chưa có tiền án, tiền sự và có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu;

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thùy T2 số tiền 220.000.000 đồng; ngày 18/9/2023, bị cáo chuyển cho chị T2 số tiền 17.180.000 đồng (bị cáo nói với chị T2 là tiền lời của cổ phiếu và coin). Do đây là vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên số tiền mà chị T2 đã được bồi thường là 220.000.000 đồng + 17.180.000 đồng = 237.180.000 đồng. Số tiền mà bị cáo phải bồi thường cho chị T2 là 212.820.000 đồng và tại phiên tòa hôm nay chị T2 yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền 212.820.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của chị T2 là có căn cứ nên chấp nhận buộc bị cáo bồi thường cho chị T2 số tiền 212.820.000 đồng;

[6] Xử lý vật chứng: 01 đĩa DVD ghi âm ghi hình trong quá trình điều tra. Xét thấy, vật chứng trên là chứng cứ trực tiếp của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án;

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản";
  2. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài T 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam: 20/6/2024;

  3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;

    Buộc bị cáo trả lại cho bị hại Nguyễn Thùy T2 số tiền 212.820.000 (Hai trăm mười hai triệu, tám trăm hai mươi ngàn) đồng;

    * Căn cứ vào khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.641.000 (Mười triệu, sáu trăm bốn mươi mốt ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm;

  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - VKSND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA.HS TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - NCQL, NVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 616/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 616/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger