Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 616/2024/DS-PT

Ngày: 10/10/2024

V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Phí Thành Chung;
  2. Ông Chu Tuấn Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 494/2020/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2020, về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.

Do bản án sơ thẩm số 17/2020/DSST ngày 23/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 97/2021/QĐ-PT ngày 16/3/2021; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 186/2021/QĐHPT-PT ngày 08/4/2021; Thông báo về việc mở lại phiên toà số 220/2024/TB-DS ngày 31/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 393/2024/QĐHPT-PT ngày 28/6/2024; Thông báo về việc mở lại phiên toà số 293/2024/TB-DS ngày 10/7/2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 436/2024/TB-DS ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Cụ Trần Văn T, sinh năm 1932, chết ngày 23/05/2021 ; những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ T là:
    1. Ông Trần Văn L, sinh năm 1948;
    2. Ông Trần Văn S, sinh năm 1949;
    3. Ông Trần Văn N, sinh năm 1957;
    4. Ông Trần Văn D, sinh năm 1959;
    5. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1961.
    6. Ông Trần Văn D1, sinh năm 1965;
    7. Bà Trần Thị G, sinh năm 1967;

    Cùng địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội.

  2. Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1948; HKTT và cư trú tại: Thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Trần Văn S, sinh năm 1949;
    2. Ông Trần Văn N, sinh năm 1957;
    3. Ông Trần Văn D, sinh năm 1959;
    4. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1961;
    5. Ông Trần Văn D1, sinh năm 1965;
    6. Bà Trần Thị G, sinh năm 1967;
    7. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949, đã chết ngày 16/07/2021; người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị H gồm:
      1. Anh Trần Văn L1, sinh năm 1973;
      2. Chị Trần Hồng V, sinh năm 1975;
      3. Anh Trần Mạnh H1, sinh năm 1976;
      4. Chị Trần Thị H2, sinh năm 1983;

      cùng địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội.

    8. Anh Trần Văn L1, sinh năm 1973;
    9. Cháu Trịnh Minh T1, sinh năm 2003;
    10. Anh Trần Mạnh H1, sinh năm 1976;
    11. Chị Dương Thị T2, sinh năm 1983;
    12. Cháu Trần Quỳnh A, sinh năm 2011;
    13. Cháu Trần Minh Đ1, sinh năm 2013;

    Cùng HKTT và cư trú tại: Thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội.

  4. Người kháng cáo: Ông Trần Văn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các ý kiến trong quá trình Toà án giải quyết vụ án; nguyên đơn - cụ Trần Văn T trình bày:

Cụ và vợ cụ là cụ Trần Thị H3 sinh được 07 người con gồm: Ông Trần Văn L, sinh năm 1948; ông Trần Văn S, sinh năm 1949; ông Trần Văn N, sinh năm 1957; ông Trần Văn D, sinh năm 1959; ông Trần Văn Đ, sinh năm 1961; ông Trần Văn D1, sinh năm 1965; bà Trần Thị G, sinh năm 1967. Ngoài ra vợ chồng cụ không có con riêng và con nuôi nào khác.

Hai cụ có tạo dựng được thửa đất tại thôn T, xã N, huyện T; theo hệ bản đồ 299/TTg là thửa đất số 13, diện tích 755m², loại đất thổ cư, đứng tên cụ Trần Thị H3.

Khi cụ H3 còn sống, hai cụ đã chia thửa đất này cho những người con trong gia đình, việc phân chia có lập thành văn bản nhưng hiện nay không biết thất lạc ở đâu. Đến năm 1994, sau khi phân chia thửa đất nêu trên được tách ra làm 04 thửa gồm: 1/ Thửa đất số 91, tờ bản đồ số 21 diện tích 153m² mục đích là đất ở, do ông Trần Văn D đang quản lý sử dụng; 2/ Thửa đất số 92 tờ bản đồ số 21 diện tích 37m² mục đích là đất ở, do anh Trần Văn L1 đang quản lý sử dụng; 3/ Thửa đất số 93 tờ bản đồ số 21 diện tích 135m² mục đích là đất ở, do ông Trần Văn N quản lý sử dụng, đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho ông Trần Văn N; 4/ Thửa số 94 tờ bản đồ số 21 diện tích 515m² mục đích là đất ở, do ông Trần Văn L quản lý sử dụng (sau đây gọi tắt là thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N).

Theo phong tục tập quán tại địa phương thì bố mẹ ở cùng con trai trưởng và khi chết thì việc thờ cúng, giỗ chạp cũng diễn ra tại nhà con trưởng. Chính vì lẽ đó cụ T đồng ý để vợ chồng ông L về chung sống cùng hai cụ tại thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N. Trước đó, vợ chồng ông L không sống tại địa phương.

Năm 1982, hai cụ đã xây nhà 3 gian, mái đổ bê tông để hai cụ và gia đình ông L sinh sống trên thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N. Nhưng trong quá trình sinh sống, gia đình ông L đối xử không tốt với hai cụ nên hai cụ phải dọn ra ngoài ở cùng con thứ. Từ năm 2013 (cụ H3 chết) cho đến nay, việc thờ cúng do người con thứ đảm nhiệm. Hai cụ không thể quay về đất của hai cụ sinh sống vì gia đình ông L xua đuổi. Cũng vì thế khi phân chia nhà đất thì trong khi các con trai đều đồng ý, chỉ có ông L - con trai trưởng không đồng ý vì muốn toàn quyền sử dụng cả 515m² đất mà không cho vợ chồng cụ đứng tên. Hai cụ có 01 người con gái là bà Trần Thị G đi lấy chồng không sinh sống ở địa phương, do gặp hoàn cảnh khó khăn nên không có chỗ ở đành quay về địa phương nhờ anh em đỡ đần. Nhưng ông L không chịu chia một phần đất để cho em gái ở.

Năm 2013, cụ H3 chết không để lại di chúc. Nay muốn để một phần đất cho bà Trần Thị G có chỗ ở và một phần đất của riêng cụ dùng làm nơi thờ cúng cho cụ và cụ H3. Để tránh xảy ra mâu thuẫn khi cụ T chết nên cụ để nghị Tòa án phân chia thừa kế phần di sản của cụ H3 trong số diện tích 515m² đất thuộc thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N đứng tên cụ Trần Thị H3. Các thửa đất khác hai cụ đã cho các con thì cụ không có đề nghị gì.

Trong quá trình Toà án giải quyết, bị đơn - ông Trần Văn L trình bày:

Về nguồn gốc đất hiện nay ông và gia đình ông đang quản lý, sử dụng là do năm 1978, bố ông là cụ Trần Văn T đã cho ông, việc cho nhận không được lập thành văn bản. Từ đó, ông và vợ con ông đã xây nhà ở ổn định cho đến nay. Năm 1986, cụ T đã cho đất và làm nhà cho ông Trần Văn D, ông Trần Văn N chiều ngang 16m mặt đường, ông chỉ còn 2m làm ngõ đi vào nhà như hiện nay là không hợp lý. Khi cụ T cho đất không nói rõ diện tích bao nhiêu, ông đã xây dụng một số công trình trên đất, còn phần đất công là công sức do ông tôn tạo. Ông không đồng ý việc cụ T yêu cầu chia thừa kế thửa đất này vì cụ T đã cho ông; ông cùng gia đình đang ăn ở ổn định, ông đã cho hai người con của ông cùng gia đình đang ăn ở ổn định.

Trong quá trình Tòa án giải quyết, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà đồng ý với quan điểm của chồng là ông Trần Văn L và không có ý kiến gì.

Trong quá trình Tòa án giải quyết, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - anh Trần Văn L1, anh Trần Mạnh H1 trình bày:

Trước đây thửa đất này của ông bà nội anh là cụ T, cụ H3 nhưng hai cụ đã cho bố các anh là ông Trần Văn L, hai cụ cho không có giấy tờ. Sau đó, cho lại ông Trần Văn N và Trần Văn D sử dụng; phần diện tích đất còn lại gia đình bố mẹ và hai anh sử dụng. Gia đình hai anh có kê khai với chính quyền địa phương để xin cấp GCNQSDĐ nhưng do đất này có tranh chấp với cụ T và các chú nên chính quyền địa phương chưa cấp GCNQSDĐ. Trước yêu cầu khởi kiện của cụ T về việc chia di sản thừa kế của cụ H3, hai anh không đồng ý vì các chú và cô G đã có đất ở, hơn nữa gia đình hai anh đã ở ổn định hơn 40 năm.

Trong quá trình Tòa án giải quyết, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - các ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1 trình bày:

Các ông đồng ý với trình bày của cụ T. Về huyết thống gia đình, cụ T và cụ H3 sinh được 07 người con gồm có: Ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1 và bà Trần Thị G. Ngoài ra, hai cụ không có con riêng và con nuôi nào khác. Nguồn gốc đất của gia đình được như hiện nay là một phần đổi của cụ G và một phần đổi với T3 cấp 3 N.

Khi cụ H3 còn sống, hai cụ cũng đã chia đất cho các con trai để ra ở riêng. Riêng với thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N là cụ T, cụ H3 để lại để ở cùng con trưởng. Trước đây, gia đình nhà ông L (là con trai trưởng) đi công tác không sinh sống và không có hộ khẩu tại địa phương. Khi quay về địa phương để nhập khẩu sinh sống thì bố mẹ các ông nhất trí cho gia đình ông L về chung sống cùng. Năm 1982, cụ T và cụ H3 đã bỏ tiền để xây dựng nhà bê tông 03 gian để mọi người cùng sinh sống. Quá trình sinh sống, gia đình ông L đã xua đuổi cụ T và cụ H3, buộc hai cụ phải ra ngoài sinh sống cùng con thứ. Nay nguyện vọng của cụ T muốn chia phần di sản của cụ H3 để có chỗ thờ cúng khi cụ T qua đời theo đúng phong tục tại địa phương và để một phần đất cho bà G sinh sống. Các ông hoàn toàn nhất trí với quan điểm của cụ T. Đối với phần thừa kế mà 05 anh, em ông được hưởng của cụ H3, các ông tự nguyện từ chối nhận di sản. Đề nghị Tòa án chia phần di sản của cụ H3 để lại cho cụ T, ông L, bà G theo quy định của pháp luật.

Quá trình thu thập chứng cứ: Theo kết quả xem xét thẩm định tại thửa đất thuộc thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N hiện nay gia đình ông L đang sử dụng. Phần ngõ đi vào có một căn nhà tạm lợp tôn, liền kề là nhà bê tông 01 tầng, 01 gian nhà tạm phía Đông Nam của thửa đất, 01 nhà bê tông xây năm 1982, còn lại là khoảng sân.

Gía trị tài sản trên đất được Hội đồng định giá xác định:

  1. Phần bán mái lợp tôn, nền lát gạch đất nung, khung sườn bằng thép hình, xây năm 2013; giá trị là: 16,3m² x 1.415.000 đồng x 30% = 6.919.000 đồng.
  2. Nhà mái bê tông, tường xây gạch chỉ, nền lát gạch men (hiện nay anh H1 đang sử dụng làm quán Internet), không có công trình vệ sinh, xây dựng năm 2013: Giá trị là: 29.4m² x 3.466.000 đồng x 30% = 30.570.000 đồng.
  3. Nhà mái bằng cũ, tường xây gạch chỉ 220, mái đổ bê tông, nền láng xi măng, không có nhà vệ sinh, xây dựng khoảng năm 1982: Giá trị là: 71.4m² x 3.466.000 đồng x 20% = 49.494.000 đồng.
  4. Nhà quây tôn, mái lợp tôn, nền láng xi măng, khung bằng thép hình, không có nhà vệ sinh trong nhà, diện tích khoảng 50m² (hiện gia đình ông L đang sinh sống, sử dụng), xây dựng khoảng năm 2013-2014: Giá trị: 50m² x 1.415.000 đồng x 30% = 21.225.000 đồng.
  5. Phần mái vẩy bằng tôn phía trong sân nhà, rộng khoảng 50m², xây dựng khoảng năm 2013-2014: Giá trị: 50m² x 278.000 đồng x 30% = 4.170.000 đồng.
  6. Phần sân phía trong nhà, kết hợp láng xi măng và dải trạt vữa, diện tích khoảng 50m²: Giá trị: 50m² x 140.000 đồng x 30% = 2.100.000 đồng.
  7. Quyền sử dụng đất: Giá trị là 35.000.000đ/m².

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2020/DSST ngày 23/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội quyết định như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn T.

Giao cụ Trần Văn T được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 262,5m² đất và công trình trên đất, đây là tài sản riêng trong khối tài sản chung của vợ chồng với cụ H3. Được xác định bởi các điểm 5,6,(6.1),7,8,5; cụ Trần Văn T phải để lại 34m² là ngõ đi chung được xác định bởi các điểm 5,(6.1),14,5 theo sơ đồ đính kèm.

Dành 74,59m² đất, chiều dài 28,15m, chiều rộng 2,65m trong phần di sản 262,5m² của cụ H3 làm ngõ đi chung (1,2,3,4,5,14,13,12,1).

Chia cụ Trần Văn T được hưởng diện tích 49,27m² đất và các công trình trên đất được giới hạn bởi các điểm 15,8,9,10,17,16,15.

Chia bà Trần Thị G được hưởng diện tích 42,21m² đất và các công trình trên đất, chiều dài mặt ngõ 4,69m, chiều dài thửa đất 9m được giới hạn bởi các điểm 13,14,15,16,13.

Chia ông Trần Văn L được hưởng diện tích 96,18m² đất cùng các công trình trên đất, chiều dài mặt ngõ 7m, chiều dài thửa đất 13,74m được giới hạn bởi các điểm 12,13,16,17,10,11,12 (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).

  1. Cụ Trần Văn T phải thanh toán tiền giá trị công trình trên đất cho ông Trần Văn L số tiền 38.423.000 đồng. Bà Trần Thị G phải thanh toán tiền giá trị công trình trên đất cho ông Trần Văn L số tiền 13.198.000 đồng.
  2. Bà Trần Thị G phải chịu 56.320.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho cụ Trần Văn T số tiền 25.312.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008527 ngày 20/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau phiên toà sơ thẩm, ông Trần Văn L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Người kháng cáo và là bị đơn - ông Trần Văn L trình bày:

Ông kháng cáo toàn bộ bản án vì những lý do sau: Ông là con trưởng trong gia đình nên ông đi làm sớm, ông công tác ngành đường sắt, lương được 61,6 đồng; hàng tháng ông đều đưa tiền cho bố mẹ ông (cụ T, cụ H3) để chi tiêu sinh hoạt. Cụ T, cụ H3 mua mảnh đất này ông không biết bao nhiêu tiền, ông cũng không đưa một khoản tiền lớn nào mà ông nghĩ số tiền ông đưa hàng tháng cụ T, cụ H3 ngoài chi tiêu sinh hoạt có tích luỹ đủ khoản tiền để mua mảnh đất này. Ông không có tài liệu chứng cứ chứng minh toàn bộ tiền mua đất là của ông. Năm 1978, cụ T, cụ H3 cho ông xây nhà, đến năm 1982 thì ông và vợ con xây xong nhà mái bằng 04 gian và chuyển ra ở. Năm 1989, ông về mất sức và hưởng lương hưu. Cụ T và cụ H3 không ở cùng ông mà vẫn ở nhà trong làng. Năm 2013, cụ H3 chết và không để lại di chúc, đám tang cụ H3 được tổ chức ở nhà trong làng. Hiện tại, vợ ông là bà H đã chết từ năm 2021. Vợ chồng ông có 04 con là anh L1, chị V, anh H1, chị H2. Trên đất hiện có ông, anh L1 cùng con trai là Trần Minh T4; anh H1 cùng vợ và 02 con còn nhỏ ở. Hai người con gái của ông đã lấy chồng và đi ở chỗ khác. Chị Trịnh Thúy H4, sinh năm 1983, đã chuyển đi năm 2005, không còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ đất tranh chấp, đề nghị không đưa vào danh sách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Trước đây ông có lời khai toàn bộ phần lấn chiếm là công sức của vợ chồng ông, các con của ông lúc đó còn nhỏ nên không có công sức đóng góp nhưng nay theo ông thì cả gia đình ông đều bỏ công sức khai hoang đất; thời điểm đó cụ T và cụ H3 đã già và ở trong làng nên không tham gia khai hoang đất.

Khi cụ T và cụ H3 còn sống thì bà G đã xây nhà rồi, ông không biết có phải cụ T và cụ H3 cho bà G tiền xây nhà hay không, ông không đồng ý chia đất cho bà G. Nay ông đề nghị hoà giải là các anh chị em đều góp tiền cho bà G mua đất và ông đề xuất nhà ông đóng 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng và giữ nguyên hiện trạng như hiện nay.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ Trần Văn T - ông Trần Văn D trình bày:

Với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn - cụ Trần Văn T, ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của cụ T.

Diện tích đất tranh chấp trước đây thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ 02, bản đồ đo năm 1986 đứng tên cụ Trần Thị H3 có diện tích 577 m². Sau đó tách thành 04 thửa là: Thửa 91 diện tích 153 m² đứng tên ông D; Thửa 92 diện tích 37 m² đứng tên anh L1; Thửa 93 diện tích 135 m² đứng tên ông N (đã được cấp GCNQSDĐ); Thửa 94 diện tích 515 m², diện tích thực tế là 524,4 m² hiện gia đình ông L đang sử dụng.

Ông không đồng ý lời trình bày của ông L vì đất là do cụ T, cụ H3 tạo dựng chứ không có chuyện ông L góp tiền cho cụ T, cụ H3 mua đất. Nguồn gốc đất là cụ T, cụ H3 đổi đất cho bà G vào năm 1976, tại thời điểm đổi đất thì mảnh đất phía trước là đường, phía sau là sông. Năm 1978, cụ T, cụ H3 xây nhà cho ông L ở riêng và cả nhà đều góp công sức. Sau đó, hai cụ muốn ở cùng với ông L nhưng vợ chồng ông L không muốn ở cùng bố mẹ. Tuy ông L ở trên đất nhưng cụ T, cụ H3 vẫn quản lý đất trồng mía, trồng chuối. Khi Nhà nước đào sông thì cả gia đình cùng tiến hành đổ đất chứ không phải một mình vợ chồng ông L. Năm 1986, 1989 lần lượt ông D, ông Nghe R ở và được bố mẹ cho bằng văn bản. Phần đất ông D, ông N xây không xây hết đất; ngăn chia ranh giới với đất nhà ông L ở là tường rào xây cao và bức tường nhà ông L ranh giới. Ông vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là không nhận di sản thừa kế của cụ H3.

Hiện nay, giữa ông L và tất cả các em không thoả thuận được với nhau. Nếu hoà giải được thì đề nghị hoà giải theo sơ đồ ông D giao nộp cho Toà án tại phiên toà phúc thẩm, các ông bà không đồng ý như ý kiến hoà giải của gia đình ông L. Nếu không hoà giải được thì đề nghị Toà án xét xử theo quy định của pháp luật. Sau phiên toà sơ thẩm thì cụ T đã chết, cụ T đã để lại di chúc là sẽ để lại phần đất cụ T được hưởng trong vụ kiện để làm nhà thờ vì gia đình hiện nay đang tạm thời thờ bố mẹ, tổ tiên tại nhà ông S.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ Trần Văn T - ông Trần Văn S, ông Trần Văn N,, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị G trình bày:

Với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn - cụ Trần Văn T, các ông bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; các ông bà thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông D ở trên và không bổ sung gì. Các ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1 vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là không nhận di sản thừa kế của cụ H3, phần di sản của cụ T thì giữ lại để sử dụng làm nhà thờ chung.

Ông Trần Văn S trình bày bổ sung: Ông đang sống trong làng trên diện tích 200 m² là đất của tổ tiên để lại, sau khi Nhà nước giải phóng mặt bằng hiện còn khoảng 68 m² (phần bị giải toả thì ông là người nhận tiền bồi thường GPMB).

Bà Trần Thị G trình bày bổ sung: Bà chưa được bố mẹ chia đất và hiện nay bà cũng không có nhà ở. Hiện bà phải đi ở nhờ trên một phần đất diện tích 33m² của nhà ông S; nhà do bà xây trên đất mượn có sự giúp đỡ của các anh em trong gia đình trừ ông L. Bà đề nghị Hội đồng xét xử chia đất cho bà để bà sớm ổn định cuộc sống.

Anh Trần Văn L1, anh Trần Văn H5 trình bày: Đồng ý với ý kiến của ông L trình bày; cả gia đình có công sức khai hoang đất.

Các đương sự có mặt gồm ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị G, anh Trần Văn L1, anh Trần Văn H5 đều không yêu cầu hoãn phiên toà, không yêu cầu định giá lại nhà đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.

Về nội dung: Ông L kháng cáo cho rằng diện tích thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N có nguồn gốc ông đi làm gửi tiền về cho mẹ ông mua trong làng, sau đổi ra phố L. Tuy nhiên cũng trong kháng cáo ông xác định bố mẹ có giấy tờ cho đất nhưng Công an H6 đã giữ khi làm thủ tục nhập khẩu cho vợ con ông về đây. Mặt khác ông khai “sau 10 năm khi tôi đi công tác vắng bố mẹ đã làm nhà cho 2 em ở trên đất này” nhưng sau khi biết việc bố mẹ xây nhà cho 2 em, ông cũng không có tranh chấp gì. Thửa đất đứng tên cụ H3; ông L không có tài liệu để chứng minh toàn bộ thửa đất tranh chấp đã được cụ T, cụ H3 cho ông. Do vậy, cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N có nguồn gốc là tài sản chung của cụ T, cụ H3 và chia di sản của cụ H3 là phù hợp pháp luật.

Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xác định toàn bộ diện tích thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N là tài sản chung của cụ T, cụ H3 là chưa xem xét hết những tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù cả hai bên đương sự đều xác nhận diện tích tăng thêm so với bản đồ 299 là do công sức của mình. Quá trình giải quyết đơn của cụ T, UBND xã N và các cơ quan chức năng của huyện T đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Theo Báo cáo số 84/BC-UBND ngày 22/9/2015 của UBND xã N có nội dung “Thửa đất số 94, tờ bản đồ số 21, diện tích 515m² đất có nguồn gốc: 263m² đất do lấn chiếm, 252m² đất có nguồn gốc của gia đình ông T được bà Trần Thị G cùng trường P đổi đất thời điểm năm 1977”. Tại Thông báo số 581/TB-UBND ngày 09/12/2015 của UBND huyện T về kết quả xác minh đơn của cụ Trần Văn T cũng có nội dung: “Phần diện tích đất gia đình đang sử dụng là 840 m², tăng 263 m² so với bản đồ đo đạc theo Chỉ thị 299/CT-TTg (577 m²) là do gia đình lấn chiếm, sử dụng ra đất do UBND xã N quản lý”.

Thực tế gia đình ông L là người trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất giáp sông T từ năm 1978 đến nay. Do vậy cần xác định diện tích 263 m² lấn chiếm sông T là do công sức của gia đình ông L nên giao ông L tạm quản lý, sử dụng. Cụ T khởi kiện chia thừa kế thì xác định diện tích 252 m² là tài sản chung của vợ chồng cụ T, cụ H3 để chia. Kháng cáo của ông L về vấn đề này có căn cứ để chấp nhận.

Quá trình thụ lý ở cấp phúc thẩm, những người con của cụ T là các ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1 vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là không nhận di sản thừa kế; với tư cách là người thừa kế của cụ T thì vẫn nhất trí quan điểm của cụ T yêu cầu chia thừa kế của cụ H3 và đồng ý với án sơ thẩm.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của ông L, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 17/2020/DS-ST ngày 23/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội theo hướng xác định một phần thửa đất tranh chấp là tài sản chung của cụ T, cụ H3, chia thừa kế di sản của cụ H3 theo pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về kháng cáo:

Tại phiên toà ngày 23/06/2020, vắng mặt ông Trần Văn L; ông L đã được tống đạt hợp lệ bản án ngày 17/07/2020. Ngày 28/07/2020, Toà án sơ thẩm nhận được Đơn kháng cáo đề ngày 27/07/2020 của ông L, ông L là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Do vậy, kháng cáo đảm bảo về chủ thể, nội dung và trong thời hạn luật định theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự đều đã được tống đạt hợp lệ đến tham gia phiên tòa. Tại phiên toà phúc thẩm, có mặt ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị G, anh Trần Văn L1, anh Trần Mạnh H1. Vắng mặt ông Trần Văn D1. Ông S, ông D, ông Đ, bà G xác nhận ông Trần Văn D1 đã nhận được giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng ông D1 bị ốm nên không tham gia phiên toà được. Hội đồng xét xử nhận thấy, các đương sự đã được triệu tập hợp lệ; ông D1 vắng mặt nhưng không có đơn hoãn phiên toà; không nộp tài liệu chứng cứ để chứng minh sự vắng mặt thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xét xử vắng mặt ông D1 theo khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét kháng cáo của ông Trần Văn L:

Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, ông L không kháng cáo về thời điểm mở thừa kế, diện và hàng thừa kế.

[2.1] Xét về nguồn gốc thửa đất:

Hội đồng xét xử nhận thấy,

T5 đất tranh chấp là thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N là một phần của thửa đất số 13, theo hệ bản đồ 299/TTg, diện tích 577 m², loại đất thổ cư, có nguồn gốc là cụ Trần Văn T và Trần Thị H3 đổi với cụ G; đứng tên cụ Trần Thị H3. Khi cụ H3 còn sống, cụ T và cụ H3 đã cho tặng, một phần thửa đất số 13, theo hệ bản đồ 299/TTg, diện tích 577m² cho những người con trong gia đình; bán cho anh L1 một phần diện tích. Việc cho tặng, bán có lập thành văn bản nhưng hiện nay đã thất lạc. Đến năm 1994, sau khi cho tặng, bán thì thửa đất số 13, theo hệ bản đồ 299/TTg được tách ra làm 4 thửa gồm: 1/ Thửa đất số 91, tờ bản đồ số 21 diện tích 153 m² mục đích là đất ở, do ông Trần Văn D đang quản lý sử dụng; 2/ Thửa đất số 92, tờ bản đồ số 21, diện tích 37 m² mục đích là đất ở, do anh Trần Văn L1 đang quản lý sử dụng; 3/ Thửa đất số 93, tờ bản đồ số 21 diện tích 135 m² mục đích là đất ở, do ông Trần Văn N quản lý sử dụng (đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho ông Trần Văn N); 4/ Thửa số 94, tờ bản đồ số 21 diện tích 515 m², do ông Trần Văn L quản lý sử dụng hiện đang tranh chấp trong vụ án này.

Ông L kháng cáo cho rằng thửa đất số 13, theo hệ bản đồ 299/TTg có nguồn gốc ông đi làm gửi tiền về cho mẹ ông mua trong làng, sau đổi ra phố L. Tuy nhiên, cụ T và tất cả các em của ông L không thừa nhận; ông L không có giấy tờ chứng minh. Ngoài ra, cũng trong đơn kháng cáo ông L xác định bố mẹ có giấy tờ cho đất nhưng Công an H6 đã giữ khi làm thủ tục nhập khẩu cho vợ con ông về đây. Tại biên bản hoà giải ngày 17/04/2022 (BL26) ông L trình bày có nội dung: “Ông là con trưởng của cụ T, cụ T đã cho đất ông làm nhà và hiện nay ông đã cho 02 con trai”. Ngoài ra, tại cấp sơ thẩm thì cả ông T và 02 con trai của ông T là anh H1 và anh L1 đều xác nhận nguồn gốc thửa đất của cụ T, cụ H3 tạo dựng. Do vậy, cấp sơ thẩm xác định nguồn gốc thửa đất tranh chấp do cụ T, cụ H3 tạo dựng là có căn cứ.

[2.2] Xét về diện tích đất:

Hội đồng xét xử nhận thấy,

Như nhận định ở trên, nguồn gốc thửa đất số 13, theo hệ bản đồ 299/TTg, do cụ T, cụ H3 đổi với cụ G ban đầu có diện tích 577 m². Theo Báo cáo số 84/BC-UBND ngày 22/9/2015 của UBND xã N có nội dung: “Thửa đất số 94, tờ bản đồ số 21, diện tích 515 m² đất có nguồn gốc: 263 m² đất do lấn chiếm, 252 m² đất có nguồn gốc của gia đình cụ T được bà Trần Thị G cùng trường P đổi đất thời điểm năm 1977”. Tại Thông báo số 581/TB-UBND ngày 09/12/2015 của UBND huyện T về kết quả xác minh đơn của cụ Trần Văn T cũng có nội dung: “Phần diện tích đất gia đình đang sử dụng là 840 m², tăng 263 m² so với bản đồ đo đạc theo Chỉ thị 299/CT-TTg (577 m²) là do gia đình lấn chiếm, sử dụng ra đất do UBND xã N quản lý”. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định, diện tích 577 m² ban đầu thì cụ T, cụ H3 đã cho ông D 153 m² đất ở; bán cho anh L1 37 m² đất ở; cho tặng ông N 135 m² đất ở. Diện tích đất còn lại là tài sản chung của của cụ T và cụ H3 đất sau khi đã tách để cho tặng, bán cho các con, cháu là 577 m² - (153 m² + 37 m² + 135 m²) = 252m². Như vậy, cần xác định 252 m² là phần đất của cụ T, cụ H3 tạo dựng.

Diện tích đất thực tế hiện nay theo đo đạc là 524,5 m², tăng so với số địa chính là do sai số. Như vậy, cần xác định diện tích lấn chiếm theo báo cáo của UBND xã N với diện tích hiện trạng là 524,5 m² - 252m² = 272,5 m².

Theo cung cấp của UBND xã N thì toàn bộ thửa đất khi các hộ ra sử dụng có một mặt bám đường (cố định) một mặt bám sông, phần chênh lệch bám sông không xác định được mốc giới. Theo sơ đồ thửa đất do UBND xã N lập ngày 25/06/2018 (BL36) so sánh giữa hệ bản đồ 299/TTg và hệ bản đồ năm 1994 thì toàn bộ diện tích trước đây là thửa đất số 13 hình chữ nhật nằm phía giáp đường đi trong đó các thửa đất số 91, 92, 93 đã có ranh giới rõ ràng. Thửa đất tranh chấp là thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N nằm chắn toàn bộ phía sau của các thửa đất số 91, 92, 93 và giáp sông T.

Qua trao đổi với chính quyền địa phương diện tích giữa bản đồ 299/TTg lập năm 1986 và bản đồ lập năm 1994 có sự chênh (tăng) về phía giáp bờ sông phía sau thửa đất. Phần chênh tăng diện tích về phía bờ sông không xác định được mốc giới cụ thể do có tranh chấp.

Như vậy, trên cơ sở phần chênh lệch giữa hệ bản đồ hệ bản đồ 299/TTg và hiện nay thì có căn cứ xác định 272,5 m², nằm ở phía sau của thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N là phần đất lấn chiếm; thời gian lấn chiếm từ sau năm 1986 đến năm 1994 (sau khi đo bản đồ năm 1986 và trước khi đo bản đồ năm 1994).

Quá trình giải quyết vụ án, tại Biên bản làm việc ngày 25/06/2015 (BL17) cụ T xác nhận nội dung: “Năm 1977, cụ làm nhà cho vợ chồng ông L ở nhưng vợ chồng ông L không mời vợ chồng cụ vào, năm 2010, ông L có ra nói chứ không đón vợ chồng cụ vào ở”. Tại biên bản hoà giải ngày 09/03/2015 (BL 22) cụ T xác nhận nội dung: “Năm 1978, cụ có xây nhà cấp 4 và tạm giao cho ông L sử dụng; năm 1986 cụ có xây 02 căn nhà và tạm giao cho 02 con trai là ông N và ông D sử dụng. Thửa đất số 94 tờ bản đồ số 21 trước đây cụ vẫn trồng cây nhưng từ năm 2003 nhà ông L xây bịt nên cụ không vào được nữa”. Bà Bùi Thị M và bà Trần Thị G xác nhận diện tích bà G đổi cho cụ T và không tranh chấp ranh giới.

Các đương sự đều xác nhận gia đình ông L là người trực tiếp ở tại nhà đất tranh chấp từ năm 1978 đến nay. Tại thời điểm năm 1986, cụ T cho ông N và ông D xây nhà bám phần mặt đường; còn lại chừa một lối đi vào phần đất phía trong gia đình ông L ở từ năm 1978; giữa 04 thửa đất đã có ranh giới là tường xây cao và tường nhà ông L ở. Các ông S, ông N, ông D, ông Đ và bà G khai gia đình cùng đổ đất và cụ T, cụ H3 vẫn quản lý đất trồng mía, trồng chuối nhưng không có tài liệu chứng minh. Như nhận định ở trên, đất tăng lên trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1994 khi nhà các ông N, ông D đã xây nhà bám mặt đường. Nếu cụ T, cụ H3 đổ đất lấn ra sông T thì hoàn toàn có thể đi từ nhà ông N, ông D vào đất chứ không xây tường cao làm ranh giới cố định.

Hội đồng xét xử nhận thấy, thửa đất số 94, bản đồ năm 1994, thôn T, xã N chỉ có lối đi duy nhất từ đường vào ngõ nhà ông L và chỉ do gia đình ông L đang ở, trực tiếp quản lý sử dụng; gia đình ông L đã đóng thuế toàn bộ diện tích 515 m² từ năm 2001-2003 (BL56). Quá trình Toà án giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông L trình bày công sức đổ đất là của vợ chồng ông vì các con còn nhỏ. Tại phiên toà phúc thẩm, ông L trình bày công sức của vợ chồng ông và các con. Lời khai của ông L là không nhất quán. Hội đồng xét xử nhận thấy ông L, bà H có 04 người con gồm anh Trần Văn L1, sinh năm 1973; chị Trần Hồng V, sinh năm 1975; anh Trần Mạnh H1, sinh năm 1976; chị Trần Thị H2, sinh năm 1983. Như nhận định ở trên, thời điểm xác định lấn chiếm đất từ sau năm 1984 khi đó người con lớn của ông L, bà H mới 11 tuổi. Do vậy, để đảm bảo sự thật khách quan cần xác định diện tích đất lấn chiếm về phía sông T là công sức của ông L và bà H; ông L và bà H cùng các con đã sử dụng liên tục cho đến nay; cần tạm giao để quản lý và tạm sử dụng phần diện tích đất này cho ông L và bà H (do những người thừa kế quyền nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị H gồm anh Trần Văn L1, chị Trần Hồng V, anh Trần Mạnh H1, chị Trần Thị H2) cho đến khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là phù hợp với quan điểm của UBND xã N tại Báo cáo số 84/BC-UBND ngày 22/09/2015 (BL127).

Đối với toàn bộ đất hiện trạng chỉ có ngõ đi 74,59 m² (chiều dài 28,15m; chiều rộng 2,65m) để đi vào đất của cụ T, cụ H3 và diện tích đất lấn chiếm 272,5 m² do vợ chồng ông L lấn chiếm như nhận định ở trên. Như vậy, cần xác định diện tích 74,59 m² là ngõ đi chung; diện tích đất là tài sản chung của cụ T, cụ H3 (sau khi trừ lối đi chung) là: 252 m² - 74,59 m² = 177,41m²; có trị gía: 177,41 m² x 35.000.0000 đồng = 6.209.350.000 đồng.

Phần tài sản riêng của cụ T, cụ H3 mỗi người được ½ diện tích đất, có giá trị là: 177,41m² : 2 = 88,705 m² đất; có giá trị: 88,705 m² x 35.000.0000 đồng = 3.104.675.000 đồng.

[2.3] Xét yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn đối với phần di sản của cụ Trần Thị H3:

Hội đồng xét xử nhận thấy,

Cụ Trần Thị H3 chết năm 2013, theo quy định tại Điều 633 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời điểm mở thừa kế di sản của cụ H3 là năm 2013. Cụ H3 không để lại di chúc, theo quy định tại Điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005 thì di sản của cụ H3 được chia theo pháp luật. Theo quy định tại điểm a Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ H3 gồm cụ T và 07 người con. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án các ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1 có văn bản và có ý kiến khước từ vì đã được bố mẹ chia đất cho. Việc từ chối nhận di sản của các ông trên là tự nguyện, không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ nên cần được chấp nhận. Như vậy, di sản của cụ H3 cần chia cho 03 người là cụ T, ông L, bà G.

Hội đồng xét xử nhận thấy, ông L là con trai trưởng của cụ T, cụ H3; thực tế hai cụ đã xây nhà cho vợ chồng ông L để ra ở riêng từ năm 1978 là có ý cho ông L; trong gia đình cụ T, cụ H3 cũng đã chia đất cho 05 người con trai khác, có người đã được cấp GCNQSDĐ. Đối với ông L thủ tục chưa hoàn tất, do hai cụ và các những người em của ông L không bằng lòng cách xử xử của ông L trong cuộc sống; cụ T khởi kiện ông L yêu cầu chia thừa kế phần di sản của cụ H3 để lại, yêu cầu đòi đất là có cơ sở. Hội đồng xét xử xác định ông L có công sức quản lý di sản; tuy nhiên, đã xác định toàn bộ phần đất tăng thêm là công sức của vợ chồng ông L; phần đất tăng thêm này có được trên cơ sở đất của cụ T, cụ H3 tạo dựng. Do vậy, Hội đồng xét xử không chia thêm công sức quản lý di sản của cụ H3 cho ông L.

Di sản của H3 chia cho 03 người là cụ T, ông L, bà G mỗi người được 01 kỷ phần là: 3.104.675.000 đồng : 3 = 1.034.891.760 đồng (tương đương với 29,5683 m²)

Do phần đất của bà G không đủ diện tích tách thửa và cấp GCNQSD đất nên cần chia cho bà G cả phần đất thuộc kỷ phần của cụ T được hưởng; diện tích cần chia cho bà G là: 29,5683 m² x 2 = 59,13 m²; có giá trị 59,13 m² x 35.000.000 đồng = 2.069.550.000 đồng. Bà G có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần cho cụ T (do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ T gồm ông L, ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1, bà G nhận để quản lý).

Do kỷ phần thừa kế của ông L được hưởng là 1.034.891.760 đồng (tương đương với 29,5683 m²) cũng không đủ diện tích tách thửa và cấp GCNQSD đất; hiện nay gia đình ông L với 03 hộ gia đình đang ở trên đất; phần đất lấn chiếm chưa hợp pháp; thửa đất có ngõ nhỏ không thuận lợi để chia làm 03 phần đất bằng hiện vật (cho cụ T, ông L, bà G). Ngoài ra, hiện nay cụ T đã chết, các ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1 đã được chia đất và không có yêu cầu hưởng đất chỉ có yêu cầu chia đất cho bà G. Hội đồng xét xử thấy cần giao phần đất của cụ T trong khối tài sản chung với cụ H3 là 88,705 m² đất, có giá trị 3.104.675.000 đồng cho ông L sử dụng. Như vậy, phần đất chia cho ông L là: 29,5683 m² + 88,705 m² đất = 118,272 m²; có giá trị 4.139.520.000 đồng; buộc ông L phải thanh toán giá trị đất bằng tiền cho cụ T (do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ T gồm ông L, ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1, bà G nhận để quản lý).

Chia vị trí đất và thanh toán như sau:

1/ Ông L được được chia 118,272 m² đất, có giá trị 4.139.520.000 đồng. Do phần đất lấn chiếm Hội đồng xét xử xác định là công sức của vợ chồng ông L nên cần chia phần đất cho ông L giáp phần đất lấn chiếm để đảm bảo quyền lợi của gia đình ông L trong việc quản lý và sử dụng cả hai phần đất này. Ông L phải thanh toán cho cụ T (do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ T gồm ông L, ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1, bà G) số tiền 3.104.675.000 đồng.

1/ Bà G được chia 59,13 m² đất, có gía trị 2.069.550.000 đồng nằm cuối ngõ đi, phía bên ngoài. Bà G phải thanh toán cho cụ T (do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ T gồm ông L, ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1, bà G) số tiền là 1.034.890.500 đồng. Do phần đất chia cho bà G nằm toàn bộ tại phần nhà mái bằng cũ, tường xây gạch chỉ 220, mái đổ bê tông, nền láng xi măng, không có nhà vệ sinh, xây dựng khoảng năm 1982, giá trị là 49.494.000 đồng; cần buộc bà G thanh toán cho ông L toàn bộ giá trị xây nhà là 49.494.000 đồng.

Qúa trình giải quyết tại cấp phúc thẩm thì cụ T chết; phạm vi giải quyết trong vụ án không giải quyết yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ T. Tuy nhiên, do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ T vừa là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn vừa là bị đơn; có quyền lợi đối kháng nhau. Hội đồng xét xử thấy cần quyết định bà G và ông L thanh toán cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ T theo tỷ lệ cụ thể để quản lý di sản của cụ T và để đảm bảo thi hành án. Theo đó, bà G có trách nhiệm thanh toán cho ông L, ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1 mỗi người số tiền là 1.034.890.500 đồng : 7 = 147.841.500 đồng; bà G quản lý di sản của cụ T là 147.841.500 đồng. Ông L thanh toán cho ông S, ông N, ông D, ông Đ, ông D1, bà G mỗi người số tiền là 3.104.675.000 đồng : 7 = 443.525.000 đồng; ông L quản lý di sản của cụ T là 443.525.000 đồng.

Như vậy, ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị G mỗi người quản lý di sản của cụ T với số tiền 147.841.500 đồng + 443.525.000 đồng = 591.366.500 đồng.

Anh Trần Mạnh H1 có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ phần nhà bán mái lợp tôn, nền lát gạch đất nung, khung sườn bằng thép hình, xây năm 2013 có giá trị 6.919.000 đồng và phá dỡ nhà mái bê tông, tường xây gạch chỉ, nền lát gạch men có giá trị 30.570.000 đồng để làm ngõ đi chung vào thửa đất của ông L, bà G được chia.

[3] Về án phí:

[3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Văn L và bà Trần Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần được hưởng từ di sản của cụ H3; ông L là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; bà G phải chịu án phí tương ứng với số tiền là 1.034.891.760 đồng, số tiền án phí là: 36.000.000 đồng + (234.891.760 đồng x 3%) = 43.046.752.800 đồng.

Ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với việc quản lý di sản của cụ T.

[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên người kháng cáo - ông Trần Văn L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả lại cụ Trần Văn T (những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị G) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 25.312.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0008527 ngày 20/2/2019 của Chi cục Thi hành án huyện Thanh Trì.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 633, Điều 675; điểm a Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005;
  • Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;
  • Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009;
  • Điều 271, Điều 272, Điều 273; khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn L; sửa bản án sơ thẩm số 17/2020/DSST ngày 23/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội cụ thể như sau:

  1. [1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn T đối với bị đơn - ông Trần Văn L.
  2. [1.2] Xác định diện tích 252 m² tại thửa đất số 94, tờ bản đồ 21, thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội thuộc phần đất còn lại của thửa đất số 13, theo hệ bản đồ 299/TTg (diện tích 577m²) loại đất thổ cư, có nguồn gốc là cụ Trần Văn T và Trần Thị H3 tạo dựng.
    1. [1.2.1] Xác định diện tích 74,59 m² (chiều dài 28,15m; chiều rộng 2,65m) được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,1 là ngõ đi chung.
    2. [1.2.2] Xác định tài sản chung của cụ Trần Văn T và cụ Trần Thị H3 sau khi trừ ngõ đi chung còn lại 177,41 m², có giá trị là 6.209.350.000 (sáu tỷ, hai trăm linh chín triệu, ba trăm năm mươi nghìn) đồng; được giới hạn bởi các điểm 1,9,10,11,13,3,2,1.
    3. [1.2.3] Xác định cụ Trần Văn T và cụ Trần Thị H3 mỗi người được chia trong khối tài sản chung là 88,705 m² đất, có giá trị 3.104.675.000 (ba tỷ, một trăm linh tư triệu, sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
    4. [1.2.4] Xác định cụ Trần Thị H3 chết năm 2013, không để lại di chúc; di sản của cụ Trần Thị H3 được chia cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ H3 gồm 08 người là: Cụ Trần Văn T, ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị G.

      Ghi nhận sự tự nguyện của các ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1 khước từ nhận di sản thừa kế của cụ Trần Thị H3.

      Chia thừa kế di sản thừa kế của cụ Trần Thị H3 cho 03 người là cụ Trần Văn T, ông Trần Văn L, bà Trần Thị G mỗi người được chia 01 kỷ phần có giá trị 1.034.891.760 (một tỷ, không trăm ba mươi tư triệu, tám trăm chín mươi mốt nghìn, bảy trăm sáu mươi) đồng, tương đương với 29,5683 m² đất.

    5. [1.2.5] Chia đất và chia giá trị như sau:
      1. Chia cho ông Trần Văn L diện tích đất 118,272 m², có giá trị 4.139.520.000 (bốn tỷ, một trăm ba mươi chín triệu, năm trăm hai mươi nghìn) đồng; liền kề phần đất lấn chiếm; được giới hạn bởi các điểm 1,2,12,11,10,9,1.

        Ông Trần Văn L phải thanh toán cho cụ Trần Văn T (do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Văn T gồm ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị G) số tiền 3.104.675.000 (ba tỷ, một trăm linh tư triệu, sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng; cụ thể: Ông Trần Văn L có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị G mỗi người số tiền 443.525.000 (bốn trăm bốn mươi ba triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.

      2. Chia cho bà Trần Thị G diện tích đất 59,13 m², có giá trị 2.069.783.333 (hai tỷ, không trăm sáu mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba) đồng; nằm cuối ngõ đi phía bên ngoài, được giới hạn bởi các điểm 2,,3,13,11,12,2; bà Trần Thị G phải thanh toán cho cụ Trần Văn T (do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Văn T gồm ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị G) số tiền 1.034.890.500 (một tỷ, không trăm ba mươi tư triệu, tám trăm chín mười nghìn, năm trăm) đồng; cụ thể: Bà Trần Thị G có trách nhiệm thanh toán ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1 mỗi người số tiền 147.841.500 (một trăm bốn mươi bảy triệu, tám trăm bốn mươi mốt nghìn, năm trăm) đồng.
      3. Bà Trần Thị G có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Văn L toàn bộ giá trị xây nhà mái bằng cũ 49.494.000 (bốn mươi chín triệu, bốn trăm chín mươi tư nghìn) đồng.
      4. Các ông bà gồm Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị G mỗi người được quản lý di sản của cụ T với số tiền 591.366.500 (năm trăm chín mươi mốt triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn, năm trăm) đồng.
    6. [1.2.6] Các quyền và nghĩa vụ khác:

      Ông Trần Văn L được đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 118,272 m²; bà Trần Thị G được đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 59,13m².

  3. [1.3] Xác định diện tích 272,5 m² liền kề thửa đất ông L được chia; nằm phía sau giáp sông T tại thửa đất số 94, tờ bản đồ 21, thôn T, xã N, huyện T được giới hạn bởi các điểm 6,7,8,9,1,6 là đất ông Trần Văn L và vợ là bà Nguyễn Thị H lấn chiếm.

    Tạm giao để quản lý và tạm sử dụng cho ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H (do những người thừa kế quyền nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị H gồm anh Trần Văn L1, chị Trần Hồng V, anh Trần Mạnh H1, chị Trần Thị H2) phần đất 272,5 m² nằm phía sau giáp sông T tại thửa đất số 94, tờ bản đồ 21, thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội. Ông Trần Văn L và anh Trần Văn L1, chị Trần Hồng V, anh Trần Mạnh H1, chị Trần Thị H2 phải chấp hành các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý về đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Anh Trần Mạnh H1 có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ phần nhà bán mái lợp tôn, nền lát gạch đất nung, khung sườn bằng thép hình, xây năm 2013 có giá trị 6.919.000 (sáu triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn) đồng và phá dỡ nhà mái bê tông, tường xây gạch chỉ, nền lát gạch men có giá trị 30.570.000 (ba mươi triệu, năm trăm bảy mươi nghìn) đồng để làm ngõ đi chung. Trong trường hợp anh Trần Mạnh H1 không tháo dỡ, theo yêu cầu của người được thi hành án, cơ quan Thi hành án có quyền phá dỡ để sử dụng làm ngõ đi chung.

  4. [2] Về án phí

    Ông Trần Văn L được miễn án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

    Bà Trần Thị G phải chịu án phí dân sự với số tiền là 43.046.752 (bốn mươi ba triệu, không trăm bốn mươi sáu nghìn, bảy trăm năm mươi hai) đồng.

    Hoàn trả lại cụ Trần Văn T (do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Văn T gồm ông Trần Văn L, ông Trần Văn S, ông Trần Văn N, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị G) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 25.312.000 (hai mươi lăm nghìn, ba trăm mười hai nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0008527 ngày 20/2/2019 của Chi cục Thi hành án huyện Thanh Trì.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án./

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nơi nhận:

  • - VKS NDTP Hà Nội;
  • - TAND huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Trì;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 616/2024/DS-PT ngày 10/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia di sản thừa kế.

  • Số bản án: 616/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger