|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 616/2023/HS-ST Ngày: 26-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Bùi Quang Việt
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt- Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 887/TLST-HS ngày ý 01/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4075/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Kiều A; giới tính: Nữ; sinh ngày 20/12/2000, tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; chỗ ở trước khi bị bắt: 574/15/38 S, Khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1964; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 25/02/2023 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Brondon Hong L, sinh năm 1963
Nơi thường trú: 1271 L, S, CA 94070
Nơi ở hiện tại: A214, 1 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa);
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Nguyễn Minh N, sinh năm 1992
HKTT: Số A, đường số G, KDC N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa);
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị O, sinh năm 1964
Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau;
Trú tại: A T, Trạm thu phí N2, ấp C, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Kiều A và ông Brondon Hong L (quốc tịch Hoa Kỳ) có quan hệ tình cảm với nhau nên tối ngày 20/02/2023, Kiều A đến phòng A214 căn hộ 1 B, Phường B, quận B của ông B chơi và nghỉ qua đêm. Đến khoảng 00 giờ ngày 21/02/2023, do thiếu tiền tiêu xài, Kiều A lén lút lục túi quần short và quần dài của ông Brondon Hong L lấy số tiền 200 USD và 01 thẻ ATM Master card (thẻ thanh toán trả trước, không cần mật khẩu) bỏ vào túi xách của mình rồi tiếp tục đi ngủ. Đến 11 giờ cùng ngày, Kiều A về nhà tại quận B, sau đó, Kiều A điều khiển xe mô tô hiệu Piaggio biển số 69F1-755.65 đến các cửa hàng vàng bạc, trang sức trên địa bàn Thành phố và dùng thẻ ATM Master card để mua vàng, trang sức, cụ thể:
Lần 1: Vào khoảng 11 giờ 50 phút ngày 21/02/2023, Kiều A đến tiệm V số 574/88 S, phường B, quận B do chị Phan Thị N1 làm chủ mua vàng nhẫn và đưa thẻ ATM Master card thanh toán số tiền 1.266 USD tương đương 30.000.000 đồng, chuyển tiền vào tài khoản tiệm V. Sau đó, Kiều A thỏa thuận với chị N1 không nhận vàng mà nhận số tiền 29.100.000 đồng (trừ phí bán lại nhẫn là 900.000 đồng).
Lần 2: Vào khoảng 12 giờ 36 phút ngày 21/02/2023, Kiều A đến tiệm V1 số C K, phường A, quận B do anh Hồng Hoàng L1 làm chủ mua 01 lượng vàng SJC với số tiền 2.906,31 USD.
Lần 3 và 4: Vào khoảng 12 giờ 50 phút ngày 21/02/2023, Kiều A đến cửa hàng “PNJ-887 H" số H Hậu Giang, Phường A, Quận F gặp chị Nguyễn Minh T mua 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng có dấu PNJ 750, 01 vỏ mề đay Q220 bằng kim loại màu trắng, 01 kim cương tròn màu trắng được đặt trong thẻ PNJLab màu xanh và thanh toán hết số tiền 2.624,97 USD và 2.506,88 USD.
Lần 5: Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 21/02/2023, Kiều A đến cửa hàng “Ngọc Thắm L2” số 87B Nguyễn Duy D, Phường 1, Quận E gặp chị Trần Thị Kiều M là nhân viên cửa hàng mua 01 lượng vàng SJC với số tiền 2.906,74 USD.
Trong 05 lần mua trên, Kiều A đã dùng thẻ ATM Master card của ông Brondon Hong L để mua vàng và nữ trang hết tổng số tiền 12.210,7 USD. Sau đó, Kiều A mang 01 lượng vàng SJC trả cho đối tượng T1 (chưa rõ lai lịch) và cất giữ số vàng, trang sức còn lại. Đối với ông Brondon Hong L, khi phát hiện thẻ ATM Master card bị mất và tiền trong tài khoản bị trừ nghi ngờ Kiều A là người lấy trộm nên đã liên lạc với Kiều A, đến khoảng 15 giờ cùng ngày 21/02/2023, Kiều A trả ông Brondon Hong L thẻ ATM trên.
Ngày 23/02/2023, ông Brondon Hong L đến Công an P, quận B trình báo sự việc. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra lệnh giữ người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Kiều A, thu giữ 200 USD; số nữ trang Kiều A đã mua; 01 xe mô tô hiệu Piaggio biển số 69F1-755.65 và chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều tra, làm rõ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B và Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Kiều A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Theo Thông báo bảng tỷ giá ngoại tệ chuyển đổi số 259 ngày 21/02/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ thì 01 USD quy đổi ra VNĐ là 23.890 VNĐ. Tổng số tiền Kiều A chiếm đoạt của ông Brondon Hong L là 12.410,7 USD tương đương 296.491.623 đồng. Đối với xe mô tô hiệu Piaggio biển số 69F1-755.65 do bà Nguyễn Thị O, đứng tên đăng ký chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà O.
Vật chứng vụ án: số tiền 200 USD; 01 viên tinh thể tròn, màu trắng (viên kim cương), 01 miếng kim loại màu vàng có chữ Sai Gon Jewelry Company SJC rồng vàng 999,9 fine Gold Công ty V2 gram (01 lượng); 01 dây kim loại màu trắng có dấu PNJ 750; 01 vỏ mề đay bằng kim loại màu trắng; 01 giấy giám định kim cương PNJ số 496940; 01 áo khoác màu xám sọc ngang đỏ xám; 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus; 01 quần dài màu nâu, 01 áo thun tay dài màu đen, 01 đôi giày màu đen, 01 túi xách màu đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Brondon Hong L số tiền 200 USD; 01 viên tinh thể tròn, màu trắng (viên kim cương), 01 miếng kim loại màu vàng có chữ Sai Gon Jewelry Company SJC rồng vàng 999,9 fine Gold Công ty V2 gram (01 lượng); 01 dây kim loại màu trắng có dấu PNJ 750; 01 vỏ mề đay bằng kim loại màu trắng; 01 giấy giám định kim cương PNJ số 496940.
Về phần dân sự: Ông Brondon Hong L đã nhận số tiền 180.000.000 đồng do bà Nguyễn Thị O là mẹ ruột bị can Kiều A khắc phục và nhận lại số tài sản do Kiều A sử dụng thẻ ATM Master card để mua nên không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
*Tại Bản cáo trạng số: 570/CT-VKS-P2 ngày 30 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Kiều A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
*Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Bị cáo Nguyễn Kiều A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
- Ông N đại diện theo ủy quyền của bị hại trình bày nhất trí như bản cáo trạng mà viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, bị hại đã nhận bồi thường đầy đủ, nên không yêu cầu gì khác, về trách nhiệm hình sự đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bà O người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày về xe gắn máy 69F1-755.65 bà đứng tên và đã nhận lại xe, về số tiền 180.000.000 đồng bị cáo đã nhờ bà bồi thường cho bị hại, nên bà không có khiếu nại, thắc mắc gì khác về sau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Nguyễn Kiều A về tội: “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
+Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51: Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kiều A: từ 07 đến 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2023.
Trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và các vấn đề khác của vụ án theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Nguyễn Kiều A không tự bào chữa, đồng thời xin được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Kiều A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám xét, dữ liệu trích xuất từ camera, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong; biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định; kết luận giám định, lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản đối chất và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 00 giờ ngày 21/02/2023, tại phòng A214 căn hộ A B, Phường B, quận B, Nguyễn Kiều A lén lút lấy số tiền 200 USD và 01 thẻ ATM Master Card của ông Brondon Hong L (quốc tịch Hoa Kỳ), sau đó đến các cửa hàng sử dụng thẻ ATM Master Card mua vàng, trang sức với tổng số tiền 12.210,7 USD, tổng trị giá tài sản Kiều A lén lút chiếm đoạt của ông Brondon Hong L quy ra tiền Việt Nam đồng là 296.491.623 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Kiều A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” nên tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự, trị an và an ninh xã hội, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật. Bị cáo là người trên 18 tuổi và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Kiều A có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 180.000.000 đồng, bị hại cũng đồng ý nhận lại những tài sản là vàng, kim cương bị cáo đã mua về cất giữ và có đơn bãi nại, xin xem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trên đây là các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ nhận định trên Hội đồng xét xử thấy bị cáo Nguyễn Kiều A có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, song hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung, cũng để bị cáo có thời gian tự rèn luyện trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật.
[3] Từ đó, Hội đồng xét xử thấy bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc đã truy tố bị cáo Nguyễn Kiều A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở để chấp nhận, đồng thời, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng.
[4] Đối với Phan Thị N1, Hồng Hoàng L1, Nguyễn Minh T, Trần Thị Kiều M là những người bán vàng, trang sức cho Kiều A và đối tượng tên T1 (chưa rõ lai lịch) không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp nên không xem xét và đề cập đến trong vụ án này.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Trách nhiệm dân sự: Ông Brondon Hong L đã nhận số tiền 180.000.000 đồng do gia đình bị cáo Nguyễn Kiều A khắc phục và nhận lại số tài sản do Kiều A sử dụng thẻ ATM Master Card để mua nên không yêu cầu bồi thường gì khác. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết và đề cập đến.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án: - Số tiền 200 (hai trăm) USD; 01 (một) viên tinh thể tròn, màu trắng (viên kim cương); 01 (một) miếng kim loại màu vàng có chữ Sai Gon Jewelry Company SJC rồng vàng 999,9 fine Gold Công ty V2 gram (01 lượng); 01 (một) dây kim loại màu trắng có dấu PNJ 750; 01 (một) vỏ mề đay bằng kim loại màu trắng; 01 (một) giấy giám định kim cương PNJ số 496940 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Brondon Hong L, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp nên không xem xét và đề cập đến.
01 (một) áo khoác màu xám sọc ngang đỏ xám; 01 (một) quần dài màu nâu, 01 (một) áo thun tay dài màu đen; 01 (một) đôi giày màu đen, 01 (một) túi xách màu đen. Hội đồng xét xử thấy vật chứng này không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Pro; 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus là điện thoại bị cáo sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.
[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kiều A: 07 (Bảy) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/02/2023.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; căn cứ khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
-
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có dấu tròn của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (bên trong có 01 áo khoác màu xám sọc ngang đỏ xám); 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Kiều A và hình dấu tròn của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (bên trong có: 01 quần dài màu nâu, 01 áo thun tay dài màu đen, 01 đôi giày màu đen, 01 túi xách màu đen);
-
Trả lại bị cáo Nguyễn Kiều A 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký, họ tên Nguyễn Kiều A (bên trong có 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro, số imei: 354615752593225, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus, số imei: 356772085413197, đã qua sử dụng) (không kiểm tra tình trạng bên trong niêm phong).
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/045 ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
-
-
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án của Ủy ban thường vụ quốc Hội;
Bị cáo Nguyễn Kiều A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo, bị hại có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26 tháng 12 năm 2023) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền làm đơn kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Hồng Sơn |
Bản án số 616/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (theft of property)
- Số bản án: 616/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kiều Anh: 07 (Bảy) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”
