Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 615/2024/HSPT

Ngày 29 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thanh Duyên

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Tửu

ông Phan Đức Phương.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Trần Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.

Tại các ngày 19 tháng 7 và ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại Điểm cầu tổ chức phiên tòa trực tuyến gồm: Điểm cầu trung tâm - Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, điểm cầu xét xử - Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau - trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 174/2024/HSPT ngày 26 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Trần Như X do bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2024/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 296/2024/QĐPT-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024.

Bị cáo kháng cáo: Trần Như X, sinh ngày 28 tháng 11 năm 1989 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Áp F, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; Quôc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Hùng T và bà Lê Thị C; Vợ trước là Phan Mộng N (đã ly hôn), vợ sau là Nguyễn Thúy H; Con có 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 03/12/2022 cho đến nay; (có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo:

  • - Luật sư Nguyễn Quốc K - Luật sư của Công ty L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).
  • - Ông Đặng Minh H1 – Luật sư của Văn phòng L5 thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).

Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1952; (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1954; (có mặt).

Nơi cư trú: Số G, đường L, Khóm E, Phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo uỷ quyền cho ông N1: Ông Ngô Trường S, sinh năm 1963; (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau;

  1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1969 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau

  1. Ông Trần Văn E, sinh năm 1970 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau

  1. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1978 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

  1. Ông Lê Văn T2, sinh năm 1983 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp I, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau

  1. Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1972 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp F, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

  1. Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1967 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp F, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

  1. Bà Phan Thùy L, sinh năm 1990 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp F, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

  1. Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1987 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau

  1. Ông Lê Hoàng K1, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau

  1. Ông Trịnh Văn N3, sinh năm 1987 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau

  1. Ông Nguyễn Văn X1, sinh năm 1987 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.

  1. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1979 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp F, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 2002 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp 6, xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

  1. Ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1973 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khóm H, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau

  1. Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1973 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khóm H, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau

  1. Ông Đăng Huỳnh L1, sinh năm 1956 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số E, H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bà Tạ Hà G, sinh năm 1981 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

  1. Ông Huỳnh H5, sinh năm 1953. (vắng mặt);

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/6/2020, Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh C cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 2001331819 cho Công ty TNHH D3 (viết tắt Công ty D3) do Trần Như X làm Chủ tịch hội đồng thành viên, có trụ sở số C, đường N, Khóm G, Phường H, thành phố C; ngành nghề kinh doanh bất động sản, dịch vụ làm giấy tờ đất, môi giới bất động sản.

Ngày 01/12/2020, X đăng ký thay đổi tên Công ty D3 thành Công ty TNHH D4 do X làm Tổng giám đốc, theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 2001331819, có trụ sở số A, đường N, Khóm E, Phường A, thành phố C; ngành nghề kinh doanh bất động sản, dịch vụ làm giấy tờ đất, môi giới bất động sản.

Từ năm 2020 đến đầu năm 2022, Trần Như X đã lợi dụng danh nghĩa từng công tác trong ngành Công an, là Chủ tịch Công ty D3, Tổng Giám đốc Công ty D4 đưa ra những thông tin gian dối, chiếm đoạt tiền của những người có nhu cầu mua đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất với tổng số tiền 2.471.500.000đ. Cụ thể:

  1. Chiếm đoạt 2.041.500.000đ của ông Nguyễn Thanh N1.
  • - Chiếm đoạt 320.000.000₫ bằng hình thức cam kết xóa nợ tiền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất:

Ngày 26/3/2020, ông Nguyễn Thanh N1 nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa Ủy ban nhân dân thành phố C xin miễn, giảm 596.210.000đ tiền chuyển đổi mục đích sử dụng 95,7m² đất (ông là người có công), nhưng chưa có kết quả.

Qua tìm hiểu thông tin trên Zalo biết được Trần Như X là Tổng Giám đốc Công ty D4 nên ông N1 liên hệ và nhờ X thực hiện các thủ tục để xóa nợ 596.210.000đ và thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng phần đất còn lại có diện tích (15m x 9,74m) tại Phường A, thành phố C được nhanh. X yêu cầu ông N1 đưa chi phí 320.000.000₫ và cam kết hoàn thành trong hạn 02 tháng, nếu không được thì X bồi thường gấp đôi (640.000.000₫).

Ngày 06/8/2020, X ký hợp đồng nhận cọc, nhận 100.000.000đ và cam kết hoàn thành hợp đồng trước ngày 06/10/2020. Ngày 08/8/2020, ông N1 ký uỷ quyền cho X. Ngày 12/8/2020, X tiếp tục nhận cọc 100.000.000đ và đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C ký hợp đồng đo vẽ hiện trạng phần đất xin

chuyển đổi. Ngày 13/8/2020, cán bộ đo đạc (ông Trần Chí H6) đến đo đạc phần đất. Ngày 14/8/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ1, làm hồ sơ thanh lý hợp đồng, nhưng X không đến nhận bản vẽ, không thanh lý Hợp đồng và không trả tiền đo vẽ. Ngày 15/8/2020, X tiếp tục nhận cọc số tiền còn lại là 120.000.000đ.

Nhận đủ 320.000.000đ thì X không làm thêm bất cứ thủ tục gì và cũng không nộp hồ sơ xin xoá nợ, không làm hồ sơ đăng ký nâng thổ cư như đã cam kết.

  • - Chiếm đoạt 300.000.000đ bằng hình thức cam kết mua 10 nền tái định cư:

Ngày 28/8/2020, X cho biết có quen nhiều người làm ở Ủy ban nhân dân tỉnh C và hứa giới thiệu cho ông N1 mua 10 nền nhà của 10 suất tái định cư (400.000.000đ/nền) và đưa Sơ đồ khu Hành chính – Chính trị tỉnh đã quy hoạch để ông N1 chọn nền. Tin là thật nên ông N1 đồng X mua 10 nền và đưa 300.000.000₫ tiền chi phí theo yêu cầu của X. Để ông N1 tin tưởng giao tiền, X viết biên nhận cam kết: Trong vòng 04 tháng không mua được 10 suất tái định cư khu Hành chính – Chính trị tỉnh, X bồi thường cho ông N1 600.000.000đ. Sau khi nhận 300.000.000đ, X không thực hiện các vấn đề như cam kết và cũng không hoàn trả lại tiền cho ông N1.

  • - Chiếm đoạt 600.000.000đ và 100m² đất (trị giá 821.500.000đ) thông qua hình thức cam kết tách thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất:

Ông N1 có phần đất tại Phường I, thành phố C diện tích 1.968,5m², đất trồng lúa, ông N1 muốn chuyển đổi thành đất thổ cư, sang lấp, tách nền. X nhận làm được theo yêu cầu của ông N1. Ngày 04/9/2020, X viết biên nhận tạm ứng 600.000.000đ tiền chi phí, nhưng chỉ nhận 500.000.000đ và cam kết nếu thực hiện không đúng thoả thuận sẽ bồi thường 5.000.000.000đ. Ngày 04/09/2020, X tiếp tục nhận 100.000.000đ.

Ngày 28/9/2020, X ký Hợp đồng với ông N1 cam kết san lấp mặt bằng phần đất tại Phường I và chuyển thành đất thổ cư diện tích 1.550m² (25m x 62m). Trong 1.550m² được phân thành 12 nền, trong đó: 11 nền, mỗi nền có diện tích 5m x 25m và 01 nền có diện tích 7m x 25m và mỗi nền đều được cấp Giấy CNQSD đất. Tiếp tục ông N1 giao cho X nền nhà ở dự án Licogi diện tích 100m² tại đường H để có thêm tiền làm chi phí cho việc lấp mặt bằng và nâng thổ cư. Khi hoàn thành thì ông N1 giao cho X nền thổ cư 7m x 15m, X đưa lại ông N1 500.000.000đ. Thời hạn thực hiện hoàn thành đến ngày 06/02/2021, nếu vi phạm thì bồi thường số tiền 3.000.000.000đ. Cùng ngày 28/9/2020, ông N1 đã ký thủ tục chuyển nhượng 100m² qua cho X, nhưng để ông Nguyễn Văn T4 đứng tên (để thế chấp Ngân hàng vay tiền vì X có nợ xấu ở Ngân hàng); ngày 02/11/2020, X thực hiện việc chuyển nhượng 100m² đất này lại cho bà Nguyễn Thị Sáng g 1.080.000.000đ.

Sau khi nhận tiền và 01 nền đất ở L, X không thực hiện những việc như đã cam kết với ông N1 và cũng không hoàn trả lại tiền cho ông N1.

  1. Chiếm đoạt 20.000.000đ của ông Trần Văn E.

Ông Trần Văn E có 22.878,2m² đất tại xã T, thành phố C, được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho “Hộ gia đình” đứng tên. Ông E có nhu cầu tách thửa và xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho

cá nhân. Vào tháng 7/2020, ông E nhờ Nguyễn Văn H7 (Giám đốc Công ty D3) và ông Trần Hữu N4 (nhân viên Công ty D3) thực hiện việc tách thửa và làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. H7 và N4 báo lại với X, X phân công H7, N4 đi xác minh.

Sau khi xác minh được biết muốn tách thửa, làm lại Giấy chứng nhận thì phải có xác nhận của các thành viên trong hộ đồng X, nhưng trong hộ gia đình có người không đồng X nên H7 trả lời cho ông E và X biết là không làm được. Sau đó, ông E liên hệ trực tiếp với X thì X nói làm được và yêu cầu ông E phải trả chi phí là 35.000.000₫.

Ngày 19/7/2020, X nhận cọc số tiền 15.000.000₫ và cam kết đến ngày 19/10/2020 thực hiện xong việc tách thửa, làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tin tưởng nên ông E giao tiền cho X có ông Nguyễn Trọng D chứng kiến, sau một thời gian ông E hỏi thì X trả lời đang thực hiện.

Ngày 28/12/2020, ông E đến Công ty I, nhưng không gặp X. Qua điện thoại, X kêu ông E đưa thêm tiền cho bà Tạ Hà G “chị nuôi” của X để bà G làm cho ông E. Bà G nhận tiền và cho rằng đã giao 5.000.000đ lại cho X. Nhưng X không thừa nhận. Sau khi nhận tiền, các yêu cầu của ông E cũng không được X thực hiện theo như cam kết.

  1. Chiếm đoạt 15.000.000đ của bà Nguyễn Thị T1.

Đầu tháng 4/2022, bà Nguyễn Thị T1 cho X biết về vụ việc ông Lâm Văn B cùng nhiều người khác có hành vi đập phá tài sản và đánh anh Nguyễn Da B1 (con của bà) vào ngày 08/11/2021 gây thương tích, Công an huyện U đã thụ lý giải quyết. Nhưng đến nay chưa có kết quả. X nói là có quen biết với nhiều người làm việc tại Công an huyện U, X cam kết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T1, buộc ông B phải bồi thường và đi cải tạo. Nhưng bà T1 phải đưa X 15.000.000đ để làm chi phí. Tin tưởng X đã từng làm trong ngành Công an và quen biết nhiều người nên bà T1 đồng X.

Ngày 07/4/2022, X nhận tiền và viết biên nhận với nội dung: “Có nhận số tiền của bà Nguyễn Thị T1 15.000.000đ, lý do bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T1, khi T1 nhận được tiền bồi thường và có quyết định thi hành án đổi với bị đơn B, hợp đồng kết thúc nếu không thực hiện được hoàn tiền lại cho chị T1”. Sau khi nhận tiền, bị cáo không thực hiện phần việc nào để thực hiện những cam kết về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà T1, cũng không trả lại tiền.

  1. Chiếm đoạt 10.000.000đ của bà Nguyễn Thị P.

Vào ngày 11/12/2021, bà Nguyễn Thị P nói với X bà được ông Lê Văn T5 (cha chồng) cho phần đất khoảng 20.000m² trong phần đất 55.061,0 m² của ông T5, nhưng không thể tách thửa, làm giấy chứng nhận cho bà đứng tên để vay tiền do Giấy chứng nhận đang thế chấp vay tiền tại Ngân hàng A1 – chi nhánh huyện U còn nợ 572.000.000đ. X cam kết trả tiền cho Ngân hàng, lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Ngân hàng ra để tách thửa, làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vay vốn theo yêu cầu của bà P, làm nhanh với chi phí là 50.000.000đ.

Ngày 13/12/2021, X yêu cầu bà P đưa trước 10.000.000đ. Nhưng bà P mới

đưa 4.000.000₫, X viết biên nhận với nội dung: “chi phí làm hồ sơ vay vốn”. Đến ngày 15/12/2021, X tiếp tục yêu cầu bà P đưa 6.000.000đ mới làm được thủ tục nên bà P tiếp tục giao 6.000.000đ. X nhận tiền và viết biên nhận, nội dung: “tạm ứng bổ sung làm hồ sơ vay vốn”. Sau khi nhận tiền X không thực hiện thủ tục nào về việc tách thửa, làm giấy chứng nhận mà yêu cầu bà P1 đưa thêm 25.000.000đ bà P không đồng X vì X không thực hiện đúng cam kết.

  1. Chiếm đoạt 4.000.000đ của ông Lê Văn T2.

Cũng trong tháng 12/2021, ông Lê Văn T2 biết bà Nguyễn Thị P đang nhờ X làm thủ tục tách thửa, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bà P là chị dâu ông T2) do ông cũng được cha ruột là ông Lê Văn T5 cho phần đất còn lại trong diện tích 55.061,0 m² nên nhờ X. X cam kết làm nhanh, yêu cầu đưa trước 4.000.000₫ để làm chi phí. X nhận tiền và viết biên nhận với nội dung: “tạm ứng làm hồ sơ vay vốn, làm tách thửa đất, cắt xong vay liền lãi suất từ 0,7 đến 0,9%”. Sau khi nhận tiền, X không thực hiện làm các thủ tục tách thửa, cấp giấy chứng nhận và vay tiền cho ông T2.

  1. Chiếm đoạt 10.000.000đ của bà Nguyễn Thị N2.

Khoảng tháng 01/2022, bà Nguyễn Thị N2 nói với X bà có phần đất 05 công mua của ông Nguyễn Ngọc A ở ấp G, xã K, huyện U chưa làm thủ tục sang tên vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông A đang thế chấp vay tiền Ngân hàng và phần đất diện tích 07m x 30m mua của ông Nguyễn Út C1 ở ấp G, xã K, huyện U chưa làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà muốn làm giấy chủ quyền hai phần đất này để vay tiền Ngân hàng. X nói X là Giám đốc Công ty D4, chuyên kinh doanh bất động sản, làm giấy tờ đất, có quen biết rộng và cam kết làm nhanh các yêu cầu của bà N2 với chi phí là 10.000.000₫.

Ngày 04/01/2022 và ngày 13/01/2022 bà N2 đưa X 10.000.000đ. X nhận tiền và viết biên nhận với nội dung: “chi phí làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hỗ trợ cho làm thủ tục vay, muốn vay 350.000.000đ làm hai sổ, qua Tết giải ngân, không hoàn thành bồi thường gấp đôi”. Sau khi nhận tiền, X không liên hệ đến các cơ quan chức năng để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N2 như đã cam kết.

  1. Chiếm đoạt 15.000.000đ của bà Nguyễn Thị H3 và bà Phan Thùy L.

Ngày 18/12/2021, bà Nguyễn Thị H3 và Phan Thùy L nói với X là đang cần vay tiền Ngân hàng để sửa chữa ghe đánh bắt thuỷ sản. X nói muốn vay bao nhiêu cũng được, tuy nhiên cần thế chấp tài sản để vay. Bà H3 nói: Bà và bà L mỗi người có 01 phần đất tại ấp F, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Nhưng chưa làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. X cam kết trong vòng 45 ngày sẽ làm xong giấy cho bà H3, bà L để thế chấp Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) – Chi nhánh tỉnh C. Chi phí đưa X để đi làm thủ tục 15.000.000đ.

Ngày 20/12/2021, bà H3 đưa X 5.000.000đ, bà L đưa X 5.000.000đ. Đến ngày 25/01/2021, X tiếp tục yêu cầu đưa thêm tiền, bà H3 và L đưa thêm mỗi người 2.500.000đ, X viết biên nhận với nội dung: “tạm ứng làm hồ sơ vay vốn, thời gian 25 ngày làm việc từ ngày 25/01/2022 hoàn thành, nếu sai hoàn tiền lại, cộng thêm 20 ngày làm hồ sơ vay vốn, tới thời điểm không có lý do khác để giải trình”. Sau

khi nhận tiền, X không thực hiện làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ vay vốn cho bà H3 và bà L như đã cam kết.

  1. Chiếm đoạt 86.000.000đ của ông Nguyễn Văn Ú, Lê Hoàng K1, Trịnh Văn N3, Nguyễn Văn X2

Vào khoảng tháng 7/2021, ông Nguyễn Văn Ú gặp X tại quán cà phê ở thành phố C, X giới thiệu X là Giám đốc Công ty D4, chuyên kinh doanh bất động sản, làm giấy tờ nhà đất, nếu có người cần làm về hồ sơ thì giới thiệu X sẽ cho ông Ú tiền cà phê. Lúc này, ông Ú nói: Mẹ của ông là bà Nguyễn Ngọc A tranh chấp đất với ông Nguyễn Văn B2, muốn làm thủ tục sớm được giải quyết. X cam kết đại diện gia đình làm hồ sơ khởi kiện ra Tòa án nhân dân tối cao, buộc ông B2 phải hoàn trả đất, X yêu cầu đưa 20.000.000đ để làm chi phí.

Ngày 22/01/2022, ông Ú đưa 20.000.000đ, X viết biên nhận với nội dung: “Tôi tên Trần Như X, đơn vị công tác Công ty TNHH D4, chức vụ Tổng giám đốc có nhận của Nguyễn Văn Ú số tiền 20.000.000đ lý do làm hồ sơ khởi kiện”. Sau khi nhận tiền, X không làm các thủ tục như đã cam kết.

Ngoài ra, ông Ú còn giới thiệu ông Lê Hoàng K1, Trịnh Văn N3, Nguyễn Như X3 với bị cáo X để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng. Cụ thể:

Ngày 29/12/2021, X cùng ông Ú đến nhà ông Lê Hoàng K1, X cam kết trả tiền cho Ngân hàng để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm thủ tục chuyển tên sang từ ông Lê Minh P2 (ông nội ông K1) sang tên ông Lê Minh P3 (cha ông K1) để thế chấp vay tiền tại Ngân hàng. Khi nào giải ngân xong thì K1 hoàn trả tiền mà X đã chỉ ra trả nợ Ngân hàng. X yêu cầu ông K1 đưa 30.000.000đ để làm chi phí. Ông K1 chỉ có 10.000.000đ nên mượn của ông Ú 20.000.000đ nên X viết biên nhận nội dung “tạm ứng làm thủ tục hồ sơ”, cam kết hoàn thành trước Tết âm lịch năm 2022. Phần tiền này của ông K1, nhưng ghi là nhận của ông Ú. Sau khi nhận tiền, X không thực hiện như đã cam kết.

Ngày 06/01/2022, ông Trịnh Văn N3 nhờ X làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn D1 (cha vợ ông N3) sang tên ông Nguyễn Văn D2 (là anh vợ của N3). Nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng A2 – Chi nhánh huyện C. X cam kết là X sẽ trả tiền cho Ngân hàng để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm thủ tục sang tên cho ông D2, sau đó thế chấp cho Ngân hàng M – Chi nhánh tỉnh C để vay tiền, giải ngân xong thì ông D2 trả lại tiền cho X. X yêu cầu ông N3 đưa 30.000.000₫ làm chi phí. Ông N3 có 20.000.000đ nên mượn ông Ú 10.000.000₫ để đưa cho X. X viết biên nhận nội dung “tạm ứng tiền làm hồ sơ vay vốn”, cam kết trước Tết âm lịch năm 2022 làm xong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vay tiền cho ông D2. Phần tiền này của ông N3, nhưng ghi là nhận của ông Ú. Sau khi nhận tiền, X không liên hệ với Ngân hàng A1 – Chi nhánh huyện C để trả nợ vay và lấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm thủ tục sang tên như cam kết.

Ông Nguyễn Văn Ú giới thiệu Trần Như X đến gặp Nguyễn Như X3 để làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn Á sang tên Nguyễn Như X. Trần Như X giới thiệu mình là Giám đốc công ty D4 chuyên làm giấy tờ đất,

vay vốn và cam kết làm được các yêu cầu của Nguyễn Như X4 với chi phí 30.000.000đ. Ngày 24/01/2022, Nguyễn Văn X1 đã đưa cho Trần Như X chi phí 6.000.000đ (lần chuyển khoảng 5.000.000đ và 1.000.000đ tiền mặt); Trần Như X cam kết trước Tết âm lịch năm 2022 sẽ làm xong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận tiền thì X không thực hiện các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Như X4 như đã cam kết.

  1. Chiếm đoạt 270.000.000đ của ông Nguyễn Văn H4.
  • - Chiếm đoạt 70.000.000đ bằng hình thức cam kết làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Ông Nguyễn Văn H4 có mua phần đất tại ấp F, xã K, huyện U của vợ chồng bà Lâm Thị Lệ N5 và ông Phạm Văn S2, nhưng phần đất này vợ chồng bà N5 mua của ông Lâm Văn T6. Nhưng đất vẫn còn do ông T6 đứng tên Giấy chứng nhận; X cam kết trong vòng 02 tuần sẽ làm xong giấy cho ông H4 với chi phí 70.000.000đ.

Ngày 19/2/2020, X nhận 40.000.000đ và viết biên nhận, nội dung: “...tiền làm thổ cư đất chú T6, làm xong sổ cho ông Nguyễn Văn H4 trong tổng số 70.000.000đ”; ngày 21/02/2020, X nhận 30.000.000đ và viết biên nhận, nội dung: “...nhận đủ 70.000.000đ, trong 02 tuần tức ngày 06/3/2020 tôi cam kết bàn giao sổ cho anh Nguyễn Văn H4, nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm”. Sau khi nhận tiền thì X không làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như cam kết.

  • - Chiếm đoạt 200.000.000đ bằng hình thức cam kết bán đất: Vào năm 2020, do biết được vợ chồng ông Hồ Công T7 và bà Lai Thị L2 có bán đất tại ấp G, xã K, huyện U nên X gặp trực tiếp hỏi mua. Ông T7 cho X xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do X không đủ tiền nên vợ chồng ông T7 không bán.

X nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác, X làm giả “Giấy nhận cọc tiền sang nhượng đất đề ngày 18/02/2020”, giả chữ ký của vợ chồng ông T7, bà L2, với nội dung: Vợ chồng ông T7, bà L2 có bán đất cho X phần đất diện tích 30m x 35m tại ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau với giá 1.500.000.000 đồng, phương thức thanh toán là X nâng thổ cư cho vợ chồng ông T7, bà L2, khấu trừ 300.000.000 đồng (xem như tiền cọc); sau đó làm GCNQSDĐ của ông T7, vị trí tại ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau, diện tích 2.5ha và nâng 200m thổ cư là hoàn tất tiên mua đất (tức trả đủ 1.500.000.000đ). Ngày 19/6/2020, X gửi qua Zalo cho ông H4 xem “Giấy nhận cọc tiền sang nhượng đất ngày 18/02/2020” và nói muốn bán phần đất này với giá 1.200.000.000đ, ông H4 tin tưởng là đất của X nên đồng X mua. X yêu cầu ông H4 đặt tiền cọc 200.000.000đ, ông Hải đồng X. Cùng ngày, X nhận tiền và viết “Giấy nhận cọc sang nhượng đất”, thể hiện nội dung: “ X bán phần đất diện tích 30m x 35m cho ông H4, giá 1.200.000.000đ, nhận cọc 200.000.000đ, làm sổ xong đưa đủ 1.000.000.000đ".* Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HDĐG ngày 07/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Cà Mau kết luận: Tại thời điểm ngày 29/9/2020, giá trị quyền sử dụng đất thuộc thửa số 759, tờ bản đồ số 04, tọa lạc đường H8, khóm F, phường A, TP ., đất ở tại đô thị diện tích 100m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 281805 ngày 18/01/2019 là 821.500.000₫ (100m² đất của ông N1).

Tại thời điểm 19/7/2022 giá trị quyền sử dụng đất (nêu trên) là 1.080.700.000₫".

* Kết luận số 276/KL-KTHS, ngày 26/6/2023, Phòng K2 Công an tỉnh C, kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên “Trần Như X” và chữ ký, phía dưới chữ ký có họ tên Trần Như X4, dưới cụm từ và mục: “Người Viết Biên Nhận”, “Người viết biên Nhận”, “(Bốn mươi triệu đồng)”, “Người Nhận và cam kết”, “Người Viết Cam Kết”, “ĐẠI DIỆN BÊN A”, “Bên nhận đặt cọc”, “Người nhận tiền”, “Người cam kết”, “Cà Mau Ngày 20/12/2020”, “TỔNG GIÁM ĐỐC”, “NGƯỜI NHẬN TIÊN”, “NGƯỜI NHẬN”, “Người làm biên nhận” trên tài liệu cần giám định (KÝ hiệu từ A1 đến A43) so với chữ ký, chữ viết họ tên “Trần Như X” trên các tài liệu mẫu so sánh (KÝ hiệu từ M1 đến M9) là do cùng một người ký và viết ra.

Cáo trạng số 71/CT-VKS-P1 ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Trần Như X về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2024/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:

  1. Trách nhiệm hình sự.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, Điều 38, điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Như X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tuyên phạt: Bị cáo Trần Như X 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 03/12/2022.

  1. Về trách nhiệm dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm m khoản 2 Điều 12 và điểm c khoản 2 Điều 18 Nghị định 99/2016/NĐ – CP của Chính phủ; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Như X có nghĩa vụ hoàn trả cho các bị hại, cụ thể:

  1. Ông Nguyễn Thanh N1 2.300.700.000 đồng;
  2. Bà Nguyễn Thị T1 15.000.000 đồng;
  3. Ông Trần Văn E 20.000.000 đồng;
  4. Bà Nguyễn Thị P 10.000.000 đồng;
  5. Ông Lê Văn T2 4.000.000 đồng;
  6. Bà Nguyễn Thị N2 10.000.000 đồng;
  7. Bà Nguyễn Thị H3 15.000.000 đồng;
  8. Ông Nguyễn Văn Ú 20.000.000 đồng;
  9. Ông Lê Hoàng K1 30.000.000 đồng;
  1. Ông Trịnh Văn N3 30.000.000 đồng;
  2. Ông Nguyễn Văn X5 6.000.000 đồng;
  3. Ông Nguyễn Văn H4 270.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  • - Tiếp tục duy trì số 180.000.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án (Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau đáng quản lý); trong đó, 175.000.000 đồng thi hành cho ông N1, 5.000.000 đồng thi hành cho ông E, còn lại 5.000.000 đồng thi hành cho các bị hại theo quy định pháp luật.
  • - Giao con dấu của Công ty TNHH D4 cho Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh C xử lý theo thẩm quyền.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/02/2024 bị cáo Trần Như X làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo kêu oan.

  • -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:

Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ, và lời khai của bị cáo, bị hại tại phiên tòa, đã đủ căn cứ xác định: Toà sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Trần Như X 16 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo kháng cáo. Nhưng không có thêm tình tiết gì mới, do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ y bản án sơ thẩm.

  • -Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Việc bị cáo nhận tiền từ các bị hại là xuất phát từ giao dịch dân sự, bị cáo đã tích cực thực hiện theo cam kết và thực hiện đến cùng, có cam kết đã thực hiện, có cam kết thực hiện chưa được do bị hại chấm dứt hoặc do trở ngại khách quan. Chưa đủ cơ sở kết luận bị cáo có X thức chiếm đoạt tiền của các bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư và của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tính hợp lệ đơn kháng cáo của bị cáo Trần Như X: Đơn kháng cáo của bị cáo X làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Như X không thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo cho rằng, các cam kết trên là giao dịch dân sự, bản thân bị cáo có thực hiện các giao dịch như đã cam kết, bị cáo không vi phạm trong các thoả thuận, giao dịch nêu trên. Công việc không hoàn thành do bên người thuê cung cấp thông tin sai lệch, tự ý ngưng hợp đồng, không giao đầy đủ tiền để thực hiện giao dịch dẫn đến các hợp đồng chưa thực hiện được, bị cáo hoàn toàn không gian dối, không chiếm đoạt tiền của các khách hàng. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của các bị hại trong suốt quá trình điều tra xét xử sơ thẩm, biên bản đối chất giữa bị cáo và các bị hại, nội dung các biên nhận, Hợp đồng mà bị cáo đã viết và các chứng khác có cơ sở xác định: Bị cáo Trần Như X4 đã cam kết thực hiện các dịch vụ đối với các bị hại và đã nhận tiền của các bị hại, thể hiện:

Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến đầu năm 2022, Trần Như X đã lợi dụng việc X từng làm trong ngành Công an, mở Công ty ITALIA làm Tổng giám đốc, X tự giới thiệu với khách hàng có người thân đang làm trong ngành Công an, quen biết với nhiều người công tác ở Ủy ban nhân dân tỉnh C và Ngân hàng để đưa ra những thông tin không có thật, cam kết thực hiện được và nhanh việc san lấp mặt bằng, tách thửa, làm thủ tục cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, mua nền tái định cư, vay vốn Ngân hàng .... để các bị hại tin tưởng mà giao tiền gọi là tiền chi phí dịch vụ cho bị cáo. Thực tế, bị cáo đã chiếm đoạt tiền của 13 người gồm: ông Nguyễn Thanh N1 2.041.500.00đ, bà Nguyễn Thị T1 15.000.000đ, ông Trần Văn E 20.000.000đ, bà Nguyễn Thị P 10.000.000đ, ông Lê Văn T2 4.000.000đ, bà Nguyễn Thị N2 10.000.000đ, bà Nguyễn Thị H3 7.500.000đ, bà Phan Thùy L 7.500.000đ, ông Nguyễn Văn Ú 20.000.000đ, ông Lê Hoàng K1 30.000.000đ, ông Trịnh Văn N3 30.000.000đ, ông Nguyễn Văn X1 6.000.000đ, ông Nguyễn Văn H4 270.000.000đ. Tổng số tiền X chiếm đoạt là 2.471.500.000₫.

Trong vụ án này, có một số hành vi của bị cáo có dấu hiệu cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như hành vi chiếm đoạt 4.000.000 đồng của ông Lê Văn T2; hành vi chiếm 320.000.000 đồng cam kết xoá nợ tiền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích đất cho ông N1; hành vi chiếm đoạt 600.000.000 đồng và 100m2 đất ( trị giá 821.000.000 đồng) cam kết tách thửa, chuyển đổi mục đích đất cho ông N1; Các hành vi chiếm đoạt tiền của các bị hại khác có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự đối với số tiền 2.471.500.000đ là đã có lợi cho bị cáo. Quá trình thực hiện tội phạm bị cáo thực hiện khéo léo với võ bọc ngoài là các giao dịch dân sự, từ thoả thuận cam kết này đến thoả thuận cam kết khác để che dấu hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù chưa đến mức độ là thủ đoạn tinh vi.

Bị cáo kháng cáo kêu oan, nhưng như đã phân tích trên, lời trình của bị cáo không phù họp với lời khai của các bị hại và các chứng cứ khác, nên không được chấp nhận.

[3] Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy

hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Bản thân bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì muốn có tiền nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi này đã gây tâm lý bất an cho người dân khi thực hiện các giao dịch có liên quan đến đất đai, tín dụng, pháp lý tố tụng, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan có thẩm quyền. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đã làm cho nhiều bị hại thiệt hại nặng về tài chính, trong đó có nhiều người bị thiệt hại số tiền lớn như ông N1, ông H4. Xét cần có mức án nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội thời gian, nhằm cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Xét về hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt Tòa sơ thẩm có xem xét cho bị cáo các tình tiết như: Bị cáo phạm tội với nhiều người, trong đó có người bị phạm tội nhiều lần nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Đối với các tình tiết giảm nhẹ: gia đình bị cáo nộp 5.000.000đ, ông Đặng Huỳnh L3 nộp trả lại 170.000.000đ tiền do bị cáo đưa, bà G nộp lại 5.000.000đ do ông E giao nên đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; gia đình bị cáo có nhiều người thân tham gia cách mạng và được tặng huân, huy chương kháng chiến như: Bà Lê Kim G1 (dì ruột), ông Lê Minh T8 (cậu ruột), ông Trần Văn P4 (ông nội) nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu, Tòa sơ thẩm xử phạt bị cáo 16 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo kháng cáo kêu oan. Như Hội đồng xét xử đã phân tích không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo và cũng không có tình tiết giảm nhẹ gì mới nên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Như X phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Như X. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.Tuyên xử:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, Điều 38, điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Như X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tuyên phạt: Bị cáo Trần Như X 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 03/12/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm m khoản 2 Điều 12 và điểm c khoản 2 Điều 18 Nghị định 99/2016/NĐ – CP của Chính phủ; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Như X có nghĩa vụ hoàn trả cho các bị hại, cụ thể:

  1. Ông Nguyễn Thanh N1 2.300.700.000 đồng;
  2. Bà Nguyễn Thị T1 15.000.000 đồng;
  3. Ông Trần Văn E 20.000.000 đồng;
  4. Bà Nguyễn Thị P 10.000.000 đồng;
  5. Ông Lê Văn T2 4.000.000 đồng;
  6. Bà Nguyễn Thị N2 10.000.000 đồng;
  7. Bà Nguyễn Thị H3 15.000.000 đồng;
  8. Ông Nguyễn Văn Ú 20.000.000 đồng;
  9. Ông Lê Hoàng K1 30.000.000 đồng;
  10. Ông Trịnh Văn N3 30.000.000 đồng;
  11. Ông Nguyễn Văn X1 6.000.000 đồng;
  12. Ông Nguyễn Văn H4 270.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  • - Tiếp tục duy trì số 180.000.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án (Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau đáng quản lý); trong đó, 175.000.000 đồng thi hành cho ông N1, 5.000.000 đồng thi hành cho ông E, còn lại 5.000.000 đồng thi hành cho các bị hại theo quy định pháp luật.
  • - Giao con dấu của Công ty TNHH D4 cho Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh C xử lý theo thẩm quyền.

* Án phí phúc thẩm:

Bị cáo Trần Như X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại thành phố Hồ Chí Minh (1)
  • - TAND tỉnh Cà Mau(1);
  • - VKSND tỉnh Cà Mau(1);
  • - Cục THADS tỉnh Cà Mau(1);
  • - CA tỉnh Cà Mau(1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau(1);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu (5).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 615/2024/HSPT ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 615/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger