Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 615/2024/DS-ST

Ngày: 26/8/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quang Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đình Tiến
  2. Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 176/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 03 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 627/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Trụ sở: 266 – B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhật Kinh K – sinh năm 1987; địa chỉ liên hệ: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh – là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 2636/2024/UQ-TGĐ ngày 02/5/2024) (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Vũ Văn D, sinh năm 1979; Địa chỉ: A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 12 năm 2023 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn do người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Nhật Kinh K trình bày:

Ngày 21/05/2019, ông Vũ Văn D có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) với hạn mức là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,6%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 209.635.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông D thanh toán cho Ngân hàng số tiền 181.071.000 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân Ngân hàng). Do ông D vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân Ngân hàng), ngày 23/05/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông D và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân Ngân hàng).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông D vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Vũ Văn D phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/10/2023 là 96.943.130 đồng (trong đó bao gồm nợ gốc 37.170.053 đồng, lãi quá hạn 59.773.077 đồng). Ông D có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 12/10/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn ông Vũ Văn D vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S do ông Nguyễn Nhật K1 K là người đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: yêu cầu ông Vũ Văn D phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2024 là 112.405.850 đồng, trong đó: nợ gốc: 37.170.053 đồng; lãi quá hạn: 75.235.797 đồng và ông Vũ Văn D có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn ông Vũ Văn D vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, sự vắng mặt của các đương sự.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Vũ Văn D tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.

[1.2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S do ông Nguyễn Nhật K1 K là người đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Vũ Văn D đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Vũ Văn D ký đề nghị ngày 21/5/2019 và phần phê duyệt của Ngân hàng ngày 22/5/2019 (kèm theo điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng Thương mại Cổ phần S) thì giữa nguyên đơn và bị đơn đã giao kết hợp đồng vay tài sản. Căn cứ bảng sao kê tài khoản thẻ chi tiết gốc, lãi và phí do nguyên đơn cung cấp thì bị đơn còn nợ nguyên đơn tính đến ngày 26/8/2024 là 112.405.850 đồng, trong đó: nợ gốc: 37.170.053 đồng; lãi quá hạn: 75.235.797 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện, bị đơn đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện và số tiền còn thiếu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn cùng các chứng cứ có trong hồ sơ xác định bị đơn còn thiếu nguyên đơn số tiền 112.405.850 đồng.

[2.2] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ còn thiếu tổng cộng là 112.405.850 đồng.

Ngoài số tiền trên, bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tính từ ngày 27/8/2024 cho đến khi trả hết nợ.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. H lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010;

- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

Bị đơn ông Vũ Văn D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là 112.405.850 (Một trăm mười hai triệu, bốn trăm lẻ năm ngàn, tám trăm năm mươi) đồng, (trong đó nợ gốc: 37.170.053 đồng; lãi quá hạn: 75.235.797 đồng) theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Vũ Văn D ký đề nghị ngày 21/5/2019 và phần phê duyệt của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ngày 22/5/2019 (kèm theo điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S), trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 27/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Vũ Văn D ký đề nghị ngày 21/5/2019 và phần phê duyệt của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ngày 22/5/2019 (kèm theo điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng Thương mại Cổ phần S).

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Văn D phải chịu án phí sơ thẩm là 5.620.292 (Năm triệu sáu trăm hai mươi ngàn, hai trăm chín mươi hai) đồng.

H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.423.578 (Hai triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn, năm trăm bảy mươi tám) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001309 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

- TANDTP. Hồ Chí Minh;

- VKSND Q.Tân Bình;

- Chi cục THADS Q. Tân Bình;

- Các đương sự;

- Lưu văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lưu Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 615/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 615/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger