Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 615/2024/DS-PT

Ngày 02 - 12 - 2024

V/v “Tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng;

- Ông Sỹ Danh Đạt;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 399/2024/TLPT-DS ngày 09/10/2024, về việc “Tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 573/QĐ-PT ngày 21/10/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Phạm Thị L, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Số nhà A đường L, tổ C, khóm M, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Trường T, sinh năm 1997;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Xuân N – Công ty L2 Luật sư chi nhánh Đ2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Cùng địa chỉ: Số C, L, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Trần Thị M, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Số nhà A, đường L, tổ C, khóm M, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Số A, đường L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lục Tài T1, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Tổ C, khóm M, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người kháng cáo: Bà Trần Thị M là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Phạm Thị L và người đại diện hợp pháp anh Nguyễn Trường T trình bày:

Bà L được Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất là 96,9m², thuộc thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại Phường M, thành phố C, Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 04221, ngày 04/4/2023.

Nguồn gốc đất là của chồng bà L là ông Trần Văn T2 được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 19/8/1994. Đến khoảng năm 1997-1998 Nhà nước quy hoạch khu Liên hợp thể thao 3 nên đã thu hồi hết đất nhưng trong quá trình xây dựng công trình Nhà nước thực hiện không hết quy hoạch diện tích đất đã bị thu hồi nên một số hộ dân do khó khăn về chỗ ở có nhu cầu được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất còn lại. Trong đó, có hộ ông T2.

Nhưng do ông T2 đã chết vào năm 2016 nên bà L là vợ ông T2 và các con đã làm thủ tục thừa kế theo pháp luật, đăng ký nộp tiền sử dụng đất và đã được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 15/2/2023 thửa đất số 47, tờ bản đồ số 7, diện tích đất là 167,4m² do bà L đứng tên quyền sử dụng đất.

Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do điều kiện khó khăn về kinh tế nên bà L đã chuyển nhượng cho một người khác một phần diện tích đất là 70,5m². Vì vậy, bà L đã tách thửa đất từ thửa số 47 thành 02 thửa, bà L là diện tích đất 96,9m², thuộc thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại Phường M, thành phố C do Sở Tài nguyên môi trưởng tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/4/2023.

Hiện nay, trên diện tích đất đang tranh chấp có căn nhà của bà M đang ở (bà M là em chồng của bà L). Bà M có xây dựng căn nhà là mái che tạm có diện tích mái che là 12,6m². Mái che có kết cấu lợp tole, cột bằng cây gỗ tạp nhỏ, nền đất, có kê gạch và lối đi từ ngoài vào nhà. Tổng diện tích bà M đang sử dụng là 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C ngày 06/12/2023.

Được biết bà M lấy chồng về Rạch G, tỉnh Kiên Giang sinh sống nhưng sau đó ly hôn chồng và về xây tạm mái che để ở khoảng từ năm 2013 cho đến nay. Phần đất tranh chấp hiện nay bà M đang quản lý và sử dụng.

Nay bà L yêu cầu bà Trần Thị M và Lục Tài T1 tháo dỡ, di dời vật kiến trúc trả lại cho bà L diện tích đất 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Bà L tự nguyện hỗ trợ tiền di dời cho bà M số tiền là 10.000.000 đồng.

Bà L thống nhất với sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 và biên bản định giá ngày 21/3/2024.

- Bị đơn bà Trần Thị M và người đại diện hợp pháp chị Nguyễn Thị Hồng D trình bày:

Trước năm 1975, ông bà có để lại cho cha mẹ bà M là ông Trần Văn Đ (chết năm 1998) và bà Nguyễn Thị T3 (chết năm 2013) phần đất diện tích khoảng gần 6.000m², toạ lạc tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp), trong đó có phần đất đo đạc thực tế là 122,7m², thuộc thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại đường L, tổ C, khóm M, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Cha mẹ bà M đã nhận đất và quản lý, sử dụng, xây dựng nhà ở trên đất, kết cấu nhà ở là khung cây gỗ tạp, vách ván, nền sàn gỗ, mái lá. Sau đó, cha mẹ bà M sửa chữa nhà thành mái tole, vách tole.

Cha mẹ bà M chung sống có 08 người con chung gồm: Trần Thị Kim T4 (đã chết), Trần Thị C, Trần Văn Đ1, Trần Văn T5, Trần Thị D1, Trần Thị V, Trần Văn T2 (chết năm 2016) và Trần Thị M.

Việc ông Trần Văn T2 tự ý kê khai đăng ký cấp giấy đất đối với toàn bộ diện tích đất trên thì bà M, cha mẹ bà M và các anh chị em hoàn toàn không hay biết.

Năm 1997, Nhà nước thu hồi toàn bộ số đất nêu trên để xây dựng khu chức năng II – Khu Liên hợp thể dục thể thao, số tiền bồi thường do thu hồi đất thì bà M không biết ai quản lý, sử dụng do bà M đang ở bên nhà chồng tại Kiên Giang.

Đến năm 1998, cha bà M là ông Đ chết. Cùng năm 1998, bà M ly thân nên dẫn con Lục Tài T1 về sinh sống tại nhà cha mẹ ruột trên phần đất này. Thời điểm này, Nhà nước chưa lấy hết đất của cha mẹ bà M để thi công, xây dựng. Do đó, mẹ bà M đã cho bà M diện tích đất ngang 2,6m bên cạnh để xây dựng nhà ở và ổn định đời sống, tức phần diện tích đất mà hiện nay bà L đang tranh chấp với bà M.

Sau khi cha bà M chết, mẹ bà M tiếp tục quản lý, sử dụng nhà và thờ cúng ông bà và cha bà M. Trong thời gian bà M sinh sống, bà M đã phụng dưỡng, chăm sóc mẹ cho đến khi mẹ bà M chết năm 2013. Sau đó, bà M hương khói và thờ cúng ông bà, cha mẹ cho đến nay. Riêng vợ ông Trần Văn T2, bà L thì xây dựng nhà cặp bên nhà thờ cúng để ở (ngay trên phần đất mà bà L đã sang bán ông Nguyễn Thông T6 chứ không ở cùng và chăm sóc cho mẹ bà M.

Sau đó, bà M biết thông tin Nhà nước có chủ trương cấp lại một phần đất đã thu hồi cho chủ đất cũ. Lúc này, bà M đang lập hồ sơ xin kê khai đăng ký cấp đất thì bà M được Ban N1 mời hoà giải về việc bà L tranh chấp, yêu cầu bà M phải tháo dở, di dời nhà và trả lại đất cho bà L, khi tiến hành hoà giải thì bà M mới biết việc bà L đã đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất được Nhà nước trả lại, bao gồm phần đất nhà ở và lối đi bà M đang quản lý, sử dụng. Ngoài ra, bà L còn mang tủ bàn ghế thờ cúng ông bà, cha mẹ bà M để trên vỉa hè.

Ngày 11/7/2023, khi Ủy ban nhân dân Phường M tổ chức hoà giải giữa bà M và bà L, bà L đã thống nhất để cho bà M được tiếp tục, quản lý, sử dụng phần đất hiện trạng và phải trả lại cho bà L số tiền bà L đã nộp tiền sử dụng đất vào Ngân sách Nhà nước. Riêng tủ bàn thờ mà bà L để trên vỉa hè thì hội đồng hoà giải yêu cầu bà L phải khiêng vào nhà nhưng bà L không đồng ý. Vì vậy, bà M đã khiêng bàn thờ vào nhà bà M hương khói và thờ cúng cho đến nay.

Từ năm 1998 đến nay, mẹ con bà M đã đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống ổn định ngay tại nhà và đất nói trên và có sửa chữa nhà ở nhiều lần, mẹ bà M và vợ chồng ông T2, bà L đều không có ý kiến và không phát sinh tranh chấp về việc bà M quản lý, sử dụng đất và xây dựng nhà ở trên đất. Hiện nay, ngoài nhà và đất nói trên bà M và con bà M không còn chỗ ở nào khác.

Do đó, bà M yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

Công nhận cho bà M được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9, thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại đường L, tổ C, khóm M, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Bà M đồng ý trả giá trị diện tích đất trên theo giá mà bà L đã nộp tiền sử dụng đất vào Ngân sách Nhà nước.

Bà M thống nhất với sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 và biên bản định giá ngày 21/3/2024.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lục Tài T1 trình bày:

Không có văn bản ghi ý kiến.

Bản án sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 229; Điều 235; Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 100 và Điều 166 Luật đất đai năm 2013; Khoản 4, 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị L yêu cầu bà Trần Thị M và Lục Tài T1 tháo dỡ, di dời tài sản và vật kiến trúc trả lại cho bà Phạm Thị L diện tích đất 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Buộc bà Trần Thị M và anh Lục T7 T1 tháo dỡ, di dời tài sản và vật kiến trúc trả lại cho bà Phạm Thị L diện tích đất 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp để giao đất cho bà Phạm Thị L.

Thời hạn lưu cư là 06 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (Trong thời gian lưu cư bà Trần Thị M và anh Lục T7 T1 không thay đổi hiện trạng để đảm bảo việc thi hành án).

  1. Không chấp nhận yêu cầu của Trần Thị M yêu cầu công nhận cho bà M được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9, thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại đường L, tổ C, khóm M, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

(Toàn bộ diện tích đất được thể hiện qua sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C; biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/12/2023 và biên bản định giá ngày 21/03/2024).

  1. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị L hỗ trợ cho bà Trần Thị M và ông Lục Tài T1 chi phí di dời nhà, tài sản vật kiến trúc trên đất số tiền là 10.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 và Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên bà Phạm Thị L được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0000003 ngày 01 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.

Bà Trần Thị M phải chịu án phí số 6.547.500 đồng nhưng bà M được miễn án phí theo thông báo số 85/TB-TA, ngày 15/01/2024 về việc miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

  1. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá giá tài sản: Bà Trần Thị M phải chịu số tiền 2.200.000 đồng, số tiền này bà Phạm Thị L đã tạm ứng và chi xong nên bà Trần Thị M có trách nhiệm trả lại số tiền 2.200.000 đồng cho bà Phạm Thị L.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm bà M kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng: Công nhận phần diện tích 29,1m² thuộc thửa 1210, tờ bản đồ số 7 cho bà M. Nhưng bà M không đồng ý nhận đất, yêu cầu bà L trả giá trị đối với phần đất nêu trên cho bà M.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự anh T, Luật sư N, chị D có mặt. Các đương sự khẳng định đã xuất trình thêm đầy đủ các chứng cứ cho Toà án xem xét giải quyết vụ án.

Chị D trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bà M. Căn cứ kháng cáo bà M được cho đất từ năm 1998, bà M lo cho bà T3 đến khi chết (chết năm 2013). Bà M sống trên đất từ năm 2000 đến nay. Việc bà M xây dựng nhà thì ông T2, bà L không có ý kiến tranh chấp ngăn cản gì. Hiện nay bà M, anh T1 không còn chỗ ở nào khác. Bà M kháng cáo yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 29,1m² của bà M, buộc bà L trả cho bà M giá trị đất với số tiền 130.950.000 đồng theo giá của Hội đồng định giá là 4.500.000 đồng/m².

Luật sư N trình bày: Đất này của ông T2, nguồn gốc đất đã được Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận rõ ràng. Bà L đã mua đất này lại từ cơ quan nhà nước và được cấp quyền sử dụng đất trên cơ sở nhà nước giao đất cho bà L có thu tiền từ tháng 03/2016 đến tháng 02/2023 mới được thực hiện xong. Thời gian đăng ký quyền sử dụng đất gần 07 năm nay là làm công khai ngay tình không ai ngăn cản, tranh chấp cho đến nay. Bà M chỉ làm máy che tạm ở trên đất. Nay bà L có nhu cầu sửa chữa nhà nên yêu cầu bà M di dời nhà. Ngoài ra, không có tài liệu nào chứng minh bà M ở trên đất từ năm 1998 mà chỉ có căn cứ thể hiện bà M ở từ năm 2013. Không có chứng cứ nào bà T8 cho phần đất này cho bà M. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Anh T trình bày: Thống nhất ý kiến của Luật sư đã trình bày, không có ý kiến bổ sung gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý đến khi giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng các đương sự có mặt đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Về nội dung kháng cáo đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thành phần những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng thì các đương sự thống nhất không có ai có yêu cầu bổ sung hay khiếu nại.

[2] Về đất tranh chấp Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ xét yêu cầu của nguyên đơn bà L yêu cầu bà Trần Thị M và Lục Tài T1 tháo dỡ, di dời vật kiến trúc trả lại cho bà L diện tích đất 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Xét thấy, bà Phạm Thị L và bà Trần Thị M đều thừa nhận bà M ở trên diện tích đất từ năm 2013 cho đến nay.

Theo lời trình bày của bà L và các tài liệu chứng cứ đã thu thập thì vào năm 1994, ông Trần Văn T2 (chồng của bà L) được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất 5.760m² thuộc các thửa 1036, 1172 và 1170, cùng tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Đến năm 1997, Nhà nước thực hiện quy hoạch làm khu chức năng III- khu liên hợp thể dục thể thao và thu hồi toàn bộ diện tích đất của ông T2 nêu trên.

Ngày 07/3/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh C1 thông báo số 47/TB-VPUBND, về việc bồi thường, hỗ trợ đối với các hộ gia đình, cá nhân thuộc quy hoạch khu chức năng III- Khu liên hợp thể dục thể thao. Trong thông báo có hộ ông Trần Văn T2 (là chồng bà L) được Nhà nước giao đất có thu tiền diện tích đất khoảng 158,1m². Đến năm 2016, ông T2 chết. Do đó, hàng thừa kế của ông T2 đã làm văn bản phân chia di sản thống nhất bà L được nhận di sản thừa kế là diện tích đất 167,4m², thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại Phường M, thành phố C theo Công văn số 1909/UBND-TNMT, ngày 25/8/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C giao đất có thu tiền đối với diện tích đất 167,4m², thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại Phường M, thành phố C. Ngày 03/11/2022, Ủy ban nhân dân thành phố C có Quyết định về việc giao đất cho bà Phạm Thị L số 2005/QĐ-UBND, giao cho bà L diện tích đất 167,4m², thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại Phường M, thành phố C. Bà L phải nộp tiền số tiền là 301.320.000 đồng. Đồng thời, Ủy ban nhân dân thành phố C có kết hợp với Ủy ban nhân dân phường M, Đại diện của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C có xuống thực địa bàn giao đất cho bà L và có lập biên bản. Do đó, diện tích đất tranh chấp là bà L mua lại của Nhà nước.

Ngày 09/3/2023 bà L có đơn xin tách thửa phần diện tích đất trên thành hai thửa và bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1209, tờ bản đồ số 07, diện tích 70,5m², thửa 1210, tờ bản đồ số 07, diện tích 96,9m². Đối với thửa 1209 thì hiện nay bà L đã chuyển nhượng cho người khác, hiện nay bà L còn thửa 1210, tờ bản đồ số 07, diện tích 96,9m².

Đồng thời, bà M thừa nhận bà M ở trên diện tích đất từ năm 2013 cho đến nay. Mặt khác, theo đơn bà M khai bà M ở trên diện tích đất từ năm 1998 cho đến nay nhưng tại phiên toà bà M lại trình bày bà M ở trên diện tích đất từ năm 2013 cho đến nay. Do đó, lời trình của bà M có sự mâu thuẫn với nhau. Ngoài ra, theo lời trình bày của bà M thì mẹ bà M đã cho bà M diện tích đất ngang 2,6m bên cạnh để xây dựng nhà ở và ổn định đời sống nhưng bà M không có tài liệu chứng cứ chứng minh.

Từ những cơ sở nêu trên nhận thấy, bà L yêu cầu bà M và anh T1 di dời tài sản, vật kiến trúc trả lại cho bà L diện tích đất 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại phường M là có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn: Bà M yêu cầu công nhận cho bà M được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9, thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại đường L, tổ C, khóm M, phường M. Đồng thời, bà M đồng ý trả giá trị diện tích đất trên theo giá mà bà L đã nộp tiền sử dụng đất vào Ngân sách Nhà nước. Xét thấy: Từ những nhận định nêu trên bà M yêu cầu là không có cơ sở nên không nhận yêu cầu của bà M.

[4] Tại phiên toà, bà L tự nguyện hỗ trợ tiền di dời số tiền 10.000.000 đồng cho bà M và anh T1 nên chấp nhận sự tự nguyện này.

[5] Đòng thời căn cứ vào đây để tính án phí, chi phí tố tụng các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

[6] Sau khi xét xử sơ thẩm bà M kháng cáo bản án sơ thẩm; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm.

Xét những trình bày và chứng cứ chứng minh của bà M nêu ra đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm xét thấy bà M trình bày đất được bà T3 cho đất nhưng không có gì chứng minh. Đất ông T2 được cấp quyền sử dụng đất năm 1994, ông T2 được nhà nước thu hồi đất trả tiền đền bù đất, bà M biết nhưng không có tranh chấp gì. Bà M có ở trên đất nhưng chỉ cất căn nhà ở tạm ở trên phần đất. Căn nhà chính vẫn do bà L quản lý, sử dụng. Bà M cũng không có tên trong sổ hộ khẩu của bà L được cấp năm 1996. Đất nhà nước giao lại cho người dân sử dụng theo Thông báo số 47/TB-VPUBND của UBND tỉnh Đ giải quyết giao đất lại cho người dân có nhu cầu sử dụng nên UBND thành phố C xét cấp lại đất cho người dân có nhu cầu. Bà L phải trả tiền của người sử dụng đất cho nhà nước là 301.320.000 đồng để nhận phần đất. Bà L1 được cấp quyền sử dụng đất, bà L chuyển nhượng phần diện tích đất cho ông Nguyễn Thông T6 diện tích đất 70.5m² nhưng bà M cũng không có ý kiến là thừa nhận đất này của bà L còn lại diện tích 96,9m². Anh T1 vắng mặt nhưng không yêu cầu và không có ý kiến gì khác trong vụ án. Bà M kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Từ nhận định trên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M; giữ nguyên bản án sơ thẩm là đúng theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên bà M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng do bà M là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp nên được miễn chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự ;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị M.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị L yêu cầu bà Trần Thị M và Lục Tài T1 tháo dỡ, di dời tài sản và vật kiến trúc trả lại cho bà Phạm Thị L diện tích đất 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Buộc bà Trần Thị M và anh Lục T7 T1 tháo dỡ, di dời tài sản và vật kiến trúc trả lại cho bà Phạm Thị L diện tích đất 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp để giao đất cho bà Phạm Thị L.

Thời hạn lưu cư là 06 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (Trong thời gian lưu cư bà Trần Thị M và anh Lục T7 T1 không thay đổi hiện trạng để đảm bảo việc thi hành án).

  1. Không chấp nhận yêu cầu của Trần Thị M yêu cầu công nhận cho bà M được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 29,1m² trong phạm vi các mốc 9, 4, 5, 6 trở về mốc 9, thuộc một phần thửa số 1210, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại đường L, tổ C, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

(Toàn bộ diện tích đất được thể hiện qua sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2023 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C; biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/12/2023 và biên bản định giá ngày 21/03/2024).

  1. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị L hỗ trợ cho bà Trần Thị M và ông Lục Tài T1 chi phí di dời nhà, tài sản vật kiến trúc trên đất số tiền là 10.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên bà Phạm Thị L được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0000003 ngày 01 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.

Bà Trần Thị M phải chịu án phí số 6.547.500 đồng nhưng bà M được miễn án phí theo thông báo số 85/TB-TA, ngày 15/01/2024 về việc miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

  1. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá giá tài sản: Bà Trần Thị M phải chịu số tiền 2.200.000 đồng, số tiền này bà Phạm Thị L đã tạm ứng và chi xong nên bà Trần Thị M có trách nhiệm trả lại số tiền 2.200.000 đồng cho bà Phạm Thị L.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị M được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ./. (10)

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng KTNV&THA TAT;
  • - TAND TP. Cao Lãnh;
  • - Chi cục THADS TP. Cao Lãnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 615/2024/DS-PT ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 615/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Phạm Thị L BĐ: Trần Thị M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger