Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 614/2023/HS-PT

Ngày: 20-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Công
Ông Trương Công Thi

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 519/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Hồ Văn T về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo và người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

HỒ VĂN T (tên gọi khác: Đông E), sinh năm 1983 tại tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Điện lạnh; Con ông: Hồ Văn D, sinh năm 1957 và bà: Phan Thị N, sinh năm 1961; Có vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1985; có 01 con sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/3/2023, tạm giam ngày 29/3/2023, hiện đang tạm giam, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn T: Luật sư Chu Đức K - Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ, có mặt.

- Bị hại: Anh Lý Thanh S (tên gọi khác: T1), sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Văn T là anh vợ Lý Thanh S; Khoảng 10 giờ, ngày 26/3/2023, S điều khiển xe mô tô chở vợ là chị Hồ Thị Mỹ D1 đến nhà bố vợ là ông Hồ Văn D, tại thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk chơi; Tại đây, S uống rượu cùng với T và ông Phan Văn C là cậu vợ của S; Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, mọi người ngồi uống nước tại phòng khách nhà ông D, thì S và T cải nhau liên quan đến cháu Nguyễn Tấn V (sinh năm 2012) là con riêng của chị D1; T đi vào bếp thì S chửi T “Anh là cái đéo gì với nhà này”; T trả lời “Mày là rể, mày khinh gia đình tao là không được”; S và T xông vào đánh nhau, thì được ông C và chị D1 can ngăn; chị D1 kéo S đến phòng để xe mô tô và S nằm ngữa trên bao phân Lân; T chạy vào nhà lấy cây sắt nhọn, có 03 cạnh, được gắn vào một đoạn cây Tre, mà ông D dùng để săn Ế, đi đến nơi S đang nằm; S thách thức “đâm thì cứ đâm”; T dùng cây sắt nhọn đâm vào bụng S một nhát; Chị D1 và ông C đưa S đến bệnh viện cấp cứu; Ngày hôm sau, T đến Công an xã H, huyện K đầu thú.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 64/KLTTCT-PY ngày 27/3/2023 và Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 319/KLTTCT-PY ngày 18/7/2023 của Trung tâm pháp y, thuộc Sở y tế tỉnh Đ kết luận: Lý Thanh S bị vết thương tại vùng thượng vị, gây thủng ruột non 02 lỗ; Tỷ lệ tổn thương thể tại thời điểm giám định là 32%.

Vật tác động: Vật tày cứng có cạnh, tiết diện nhỏ; Cơ chế hình thành vết thương: Có hướng từ trước ra sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54 BLHS.

Xử phạt: Hồ Văn T 11 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 27/3/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/9/2023, bị cáo Hồ văn T2 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 27/9/2023, bị hại Lý Thanh S có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại, sửa Bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo, bởi vì Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 11 năm tù là nghiêm khắc, bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo là người hưởng chính sách như thương binh.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa và xem xét ý kiến của Luật sư và quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi và tội danh như Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, chỉ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt. Bị hại Lý Thanh S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo.

[2] Xét lời khai của bị cáo Hồ Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù, bị cáo cho rằng không có ý định đâm chết anh S nhưng Hội đồng xét xử xét thấy rằng, ngay sau xâu ẩu nhau và được mọi người can ngăn, bị cáo đã dùng cây sắt nhọn có 03 cạnh đến chỗ anh S nằm và anh S nói “đâm thì đâm đi”, bị cáo đã đâm thẳng một nhát từ trên xuống vào bụng anh S, trong khi anh S đang nằm ngửa trên bao phân, thì được chị D1 và ông C đưa anh S đi cấp cứu, nên bị cáo không thể tiếp tục đâm anh S, hậu quả: anh S bị thương vùng thượng vị, gây thủng ruột non 2 lỗ, tỷ lệ thương tích là 32%; anh S không chết là ngoài ý muốn của bị cáo.

Với hành vi phạm tội đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hồ Văn T về tội “Giết người”, với tình tiết định khung hình phạt là “Giết người có tính chất côn đồ”, được quy định điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo và kháng cáo xin giảm hình phạt của bị hại cho bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: chỉ vì mâu thuẩn nhỏ nhặt giữa bị cáo và anh S, liên quan đến con riêng của chị D1 là vợ của S; Mặc dù đã được mọi người can ngăn nhưng bị cáo đã dùng cây sắt nhọn đâm vào bụng anh S; Do chị D1 và ông C kịp thời đưa anh S đi cấp cứu, nên bị cáo không thể tiếp tục đâm anh S; Việc anh S chưa chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo, thể hiện tính côn đồ, hung hãn, xem nhẹ tính mạng của người khác một cách cao độ, nhằm tước đoạt trái phép sinh mạng của anh S. Khi xét xử sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, như bị cáo đã đầu thú thành khẩn khai báo và tác động với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Từ đó, tuyên phạt bị cáo 11 năm tù là tương xứng với tính chất hành vi, hậu quả của vụ án và đã xem xét chiếu cố đến nhân thân của bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, gia đình bị cáo có xuất trình tài liệu thể hiện ông Hồ Văn D (bố của bị cáo) là người được hưởng chính sách như thương binh. Xét thấy, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, ảnh hưởng không lớn đến việc quyết định hình phạt. Mặt khác, trong vụ án này, như

phân tích ở trên, Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 11 năm tù là thoả đáng, tương xứng với tính chất hành vi, hậu quả vụ án và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

Từ phân tích và lập luận trên, thấy rằng Toà án cấp sơ thẩm xử bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật; bị cáo và bị hại kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không có căn cứ chấp nhận, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH về án phí lệ phí Toà án.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Văn T và kháng cáo của bị hại Lý Thanh S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54 BLHS.

Xử phạt: Hồ Văn T (tên gọi khác: Đông E) 11 năm tù, về tội “Giết người”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 27/3/2023.

Về án phí phúc thẩm hình sự: Bị cáo Hồ Văn T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng HSNV- Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk h;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 614/2023/HS-PT ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 614/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Văn T và kháng cáo của bị hại Lý Thanh S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54 BLHS. Xử phạt: Hồ Văn T (tên gọi khác: Đông E) 11 năm tù, về tội “Giết người”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 27/3/2023. Về án phí phúc thẩm hình sự: Bị cáo Hồ Văn T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger