trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 613/2024/DS-PT

Ngày: 12/12/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh".

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp

Ông Nguyễn Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 497/2024/TLPT-DS, ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 153/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 571/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ: Số D, đường T, ấp K, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn L - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Việt C - Chức vụ: Phó Giám đốc.

    Người được ủy quyền lại:

    1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Số A, đường T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
    2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992; địa chỉ: Số E, Quốc lộ B, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có đơn vắng mặt.
  3. Bị đơn:
    • Ông Lê Minh T2, sinh năm 1956; vắng mặt
    • Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958; có đơn xin vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Số A, đường N, Khu phố A, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông T2: Bà Kim Cẩm T3, sinh năm 1988; địa chỉ: Số D, đường T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ E, hẻm C, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người kháng cáo: Công ty TNHH S là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, biên bản lấy lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguyên bà Nguyễn Thị Kim N có nợ Công ty TNHH S (viết tắt là Công ty) cho đến thời điểm hiện nay với số tiền là hơn 5.000.000.000 đồng. Trong khoản nợ nêu trên, vì để đảm bảo cho số tiền nợ 5.000.000.000 đồng nên ngày 27/02/2021, ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Kim N ký Bản cam kết thế chấp tài sản ứng vốn mua mủ cao su với nội dung chính như sau: “Nay tôi làm giấy này thế chấp cho Công ty... tài sản sau: Giấy chứng nhận Quyền Sử Dụng Đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BY 596948...Để ứng vốn đặt cọc cho bà Nguyễn Thị Kim N. Số tiền ứng: 5.000.000.000 đồng. Thời hạn thanh toán: Từ 01/03/2021 đến ngày 05/03/2021 ông Lê Minh T2 và bà Nguyễn Thị H sẽ hoàn trả số tiền trên...Nếu sử dụng không đúng mục đích và không thanh toán theo đúng cam kết, Công ty TNHH S tiến hành nhờ các bộ phận liên quan thẩm định tài sản và khởi kiện theo đúng quy định pháp luật...”. Số tiền nêu trong Bản cam kết thế chấp tài sản ứng vốn mua mủ cao su nêu trên, bản chất là số tiền nợ mà Công ty đã chi trả cho bà N. Việc ông T2, bà H ký xác nhận thế chấp tài sản vào Bản cam kết nêu trên với mục đích để đảm bảo, bảo lãnh cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên được bảo lãnh (bà N) với số tiền là 5.000.000.000 đồng vì trong Bản cam kết có thể hiện rõ nội dung “Thời hạn thanh toán: Từ 01/03/2021 đến ngày 05/03/2021 ông Lê Minh T2 và bà Nguyễn Thị H sẽ hoàn trả số tiền trên”. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ ngày 01/3/2021 đến ngày 05/3/2021 và cả thời gian từ sau ngày 05/3/2021 cho đến nay, ông T2 và bà H vẫn không trả số tiền 5.000.000.000 đồng mà ông, bà đã bảo lãnh trả nợ thay cho bà N, mặc dù Công ty đã nhiều lần yêu cầu. Do ông T2 và bà H đã vi phạm cam kết bảo lãnh mà các bên đã thỏa thuận nên Công ty yêu cầu ông T2, bà H liên đới trả số tiền 5.000.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 06/3/2021 đến ngày xét xử với mức lãi suất 0,83%/tháng thành tiền là 1.743.000.000 đồng.

* Bị đơn ông Lê Minh T2 và người đại diện theo ủy quyền của ông T2 trình bày:

Ông T2 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Công ty vì ông T2 không bảo lãnh cho ai và Hợp đồng ủy quyền cho bà N vô hiệu nên bản cam kết thế chấp cũng vô hiệu. Ngoài ra, nội dung không thể hiện đúng ý chí các bên, vì khoản nợ 5.000.000.000 đồng là của bà N với Công ty, nhưng B cam kết lại ghi là ông T2 và bà H sẽ hoàn trả số tiền trên là không đúng. Đây cũng là khoản nợ cũ của bà N với Công ty chứ không phải như Bản cam kết ghi là ứng vốn đặt cọc, nghĩa là số tiền này bà N đã nợ Công ty trước đó. Công ty không có quyền nhận thế chấp và cũng không đảm bảo các điều kiện về hình thức đối với thế chấp tài sản đăng ký là bất động sản. Như vậy Bản cam kết thế chấp tài sản trên là vô hiệu. Về quan hệ tranh chấp Tòa án đã thụ lý là tranh chấp hợp đồng bảo lãnh là không đúng, vì trong vụ án này không có hợp đồng bảo lãnh và thực chất bản cam kết thế chấp ngày 27/2/2021 là sự lừa dối và vi phạm cả về nội dung lẫn hình thức. Ông T2 không có quan hệ làm ăn với Công ty, vợ chồng ông T2 già không có khả năng lao động thì sao lại thế chấp tài sản trả nợ thay cho bà N 5.000.000.000 đồng đó là điều bất hợp lý, thời gian trả lại trong vòng 4 ngày (01/3-5/3/2021). Rõ ràng ở đây có sự lừa dối vì không thể nào ông T2 có được số tiền 5.000.000.000 đồng trong 4 ngày và ngày hôm đó cũng không có việc giao nhận tiền.

Mặt khác thời điểm ký vào biên bản này ông T2 (đã bị lừa dối) ký hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng thì rõ ràng ông T2 không có tư cách pháp lý để ký vào bản cam kết này. Việc ký cam kết này, hoàn toàn không đúng với các quy định pháp luật về thế chấp tài sản. Đồng thời, ông T2 có yêu cầu phản tố, yêu cầu tuyên Bản cam kết thế chấp tài sản ứng vốn mua mủ cao su ngày 27/02/2021 vô hiệu và buộc Công ty có trách nhiệm trả lại cho ông T2, bà H 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY596948 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 12/8/2015 cho ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H.

Bị đơn bà H đã được Tòa án tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ từ sau khi thụ lý vụ án, nhưng bà H từ chối cung cấp lời khai và có đơn xin vắng mặt không đến tòa để trình bày ý kiến cũng như không tham gia phiên họp, phiên hòa giải và xét xử.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N đã được Tòa án tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ từ sau khi thụ lý vụ án, nhưng bà N không đến tòa để trình bày ý kiến cũng như không tham gia phiên họp, phiên hòa giải và xét xử.

Tại bản án số 153/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của TAND thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S đối với ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh” đối với số tiền 6.743.000.000 đồng gồm nợ gốc 5.000.000.000 đồng và tiền lãi là 1.743.000.000 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh T2 đối với Công ty TNHH S.

“Bản cam kết thế chấp tài sản ứng vốn mua mủ cao su ngày 27/02/2021” được ký giữa Công ty TNHH S và ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị Kim N là vô hiệu.

Buộc Công ty TNHH S có trách nhiệm trả lại cho ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY596948 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 12/8/2015 cho ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/9/2024 Công ty TNHH S kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty khoảng tiền bảo lãnh là 5.000.000.000 đồng và tiền lãi 10% năm kể từ ngày 06/3/2021cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Ông Phạm Văn T trình bày: Căn cứ vào Bản cam kết ngày 27/02/2021 đã ký kết, thì việc ký kết của các bên là tự nguyện nên các bên phải chịu trách nhiệm đối với giao dịch của mình. Khi đến hạn ông T2, bà H không thực hiện nghĩa vụ của mình thì Công ty căn cứ vào Điều 335 Bộ luật Dân sự yêu cầu ông T2, bà H có nghĩa vụ thực hiện theo bản cam kết đã ký kết. Mặc dù bà H không ký kết vào bản cam kết nhưng bà H có văn bản và thừa nhận biết việc này; sự thỏa thuận vượt quá thời hạn nên Công ty yêu cầu tính lãi suất 10%năm là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty.

Bà Kim Cẩm T3 trình bày: Đây không phải là tranh chấp hợp đồng bảo lãnh mà là thế chấp tài sản, việc thế chấp không đúng quy định của pháp luật, không có công chứng chứng thực; trong trường hợp bảo lãnh thì phát sinh khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ; bà N vẫn còn tài sản để trả nợ cho Công ty nên không đồng ý yêu cầu kháng cáo của Công ty; vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty, sửa bản án sơ thẩm về việc tính lại án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu tòa án giải quyết vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Kim N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án: Công ty TNHH S yêu cầu ông T2, bà H liên đới trả số tiền 5.000.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 06/3/2021 đến ngày xét xử với mức lãi suất 0,83%/tháng thành tiền là 1.743.000.000 đồng.

Ông T2 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Công ty vì ông T2 không bảo lãnh cho ai và Hợp đồng ủy quyền cho bà N vô hiệu nên bản cam kết thế chấp cũng vô hiệu. Đồng thời, ông T2 có yêu cầu phản tố, yêu cầu tuyên Bản cam kết thế chấp tài sản ứng vốn mua mủ cao su ngày 27/02/2021 vô hiệu và buộc Công ty có trách nhiệm trả lại cho ông T2, bà H 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY596948 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 12/8/2015 cho ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH S thấy rằng:

[2.1] Vào ngày 27/02/2021 giữa bên nhận thế chấp: Công ty TNHH S với bên thế chấp: ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị Kim N ký Bản cam kết thế chấp tài sản ứng vốn mua mủ cao su với nội dung: “Nay tôi làm giấy này thế chấp cho Công ty... tài sản sau:Giấy chứng nhận Quyền Sử Dụng Đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BY 596948...Để ứng vốn đặt cọc cho bà Nguyễn Thị Kim N. Số tiền ứng: 5.000.000.000 đồng. Thời hạn thanh toán: Từ 01/03/2021 đến ngày 05/03/2021 ông Lê Minh T2 và bà Nguyễn Thị H sẽ hoàn trả số tiền trên...Nếu sử dụng không đúng mục đích và không thanh toán theo đúng cam kết, Công ty TNHH S tiến hành nhờ các bộ phận liên quan thẩm định tài sản và khởi kiện theo đúng quy định pháp luật...”. Việc ông T2 ký xác nhận thế chấp tài sản vào Bản cam kết nêu trên với mục đích để đảm bảo, bảo lãnh cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên được bảo lãnh (bà N) với số tiền là 5.000.000.000 đồng vì trong Bản cam kết thể hiện rõ nội dung “Thời hạn thanh toán: Từ 01/03/2021 đến ngày 05/03/2021 ông Lê Minh T2 và bà Nguyễn Thị H sẽ hoàn trả số tiền trên”. Hết thời hạn từ ngày 01/3/2021 đến ngày 05/3/2021 và cả thời gian từ sau ngày 05/3/2021 cho đến nay, ông T2 vẫn không trả số tiền 5.000.000.000 đồng cho Công ty. Do đó ông T2 đã vi phạm cam kết bảo lãnh mà các bên đã thỏa thuận nên Công ty yêu cầu ông T2 trả số tiền 5.000.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo Điều 335 Bộ Luật Dân sự.

[2.2] Cấp sơ thẩm cho rằng ông T2, bà H bị lừa dối, nhầm lẫn đối với nội dung trên là không có cơ sở. Bởi lẽ trước khi ký Bản cam kết thế chấp tài sản ứng vốn mua mủ cao su ngày 27/02/2021 thì căn cứ vào hồ sơ thụ lý phúc thẩm số 487/TLDS-PT ngày 28/11/2022 thì ông T2, bà H có làm hợp đồng ủy quyền cho bà N để cho bà N mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2, bà H thế chấp cho Công ty đối với số tiền 5.000.000.000 đồng để làm ăn kinh doanh. Sau khi Văn phòng công chứng lập hợp đồng ủy quyền không đúng với nội dung mà các bên thỏa thuận thì giữa các bên cũng đã lập 01 “Bản hợp đồng dân sự ngày 29/01/2021” để xác nhận lại nội dung chỉ cho bà N mượn giấy đất để thế chấp cho Công ty đến tháng 4/2021.

[2.3] Đối với yêu cầu bà H có trách nhiệm liên đới với ông T2 trả cho Công ty số tiền 5.000.000.000 đồng thấy rằng: Mặc dù bà H không ký tên vào bản cam kết nhưng bà H có biết và đồng ý việc bảo lãnh này thể hiện theo lời trình bày của bà H tại Bản án dân sự sơ thẩm số 158/2022/DS-ST ngày 18/10/20222; hồ sơ dân sự phúc thẩm số 487/TLDS-PT ngày 28/11/2022 và Bản tường trình của ông T2, bà H ngày 16/5/2023 cũng như bản hợp đồng dân sự ngày 29/01/2021 mà bà H đã ký kết. Do đó đối với yêu cầu bà H có trách nhiệm liên đới với ông T2 trả cho Công ty số tiền 5.000.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét yêu cầu tính lãi suất của Công ty thấy rằng: Trong bản cam kết thể hiện “Thời hạn thanh toán: Từ 01/03/2021 đến ngày 05/03/2021 ông Lê Minh T2 và bà Nguyễn Thị H sẽ hoàn trả số tiền trên”. Đến nay ông T2, bà H cũng chưa thanh toán số tiền trên nên Công ty yêu cầu ông T2, bà H trả tiền lãi từ ngày 06/3/2021 mức lãi suất 10%năm cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.743.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Tuy nhiên việc Công ty nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2, bà H không có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật do đó Công ty phải có trách nhiệm trả cho ông T2, bà H 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T2, bà H đứng tên.

[4] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty, sửa bản án sơ thẩm về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S đối với ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh”. Ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty TNHH S số tiền 6.743.000.000 đồng gồm nợ gốc 5.000.000.000 đồng và tiền lãi là 1.743.000.000 đồng.

Do yêu cầu của Công ty được chấp nhận nên ông T2, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông T2, bà H là người cao tuổi được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Do yêu cầu kháng cáo của Công ty được chấp nhận nên Công ty không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH S.

- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 153/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào Điều 335 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S đối với ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh”.
  2. Buộc ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty TNHH S số tiền 6.743.000.000 đồng (sáu tỷ bảy trăm bốn mươi ba triệu đồng) gồm nợ gốc 5.000.000.000 đồng và tiền lãi là 1.743.000.000 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu người bị thi hành án chưa trả đủ số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án tiền lãi do chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh T2 đối với Công ty TNHH S về việc tuyên “Bản cam kết thế chấp tài sản ứng vốn mua mủ cao su ngày 27/02/2021” được ký giữa Công ty TNHH S và ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị Kim N vô hiệu.
  4. Buộc Công ty TNHH S có trách nhiệm trả lại cho ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY596948 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 12/8/2015 cho ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  6. Ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị H được miễn (người cao tuổi).

    Hoàn trả cho Công ty TNHH S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.060.000 đồng, theo Biên lai thu số 0002103 ngày 26/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

    Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh hoàn trả cho ông Lê Minh T2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai thu số 0002285 ngày 11/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

  7. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  8. Hoàn trả cho Công ty TNHH S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0003239 ngày 12/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND TP Tây Ninh;
  • - CCTHADS TP Tây Ninh
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 613/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng bảo lãnh

  • Số bản án: 613/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty cao su L kiện ông T đòi 5 tỷ đồng và lãi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger