TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 612/2023/HS-PT Ngày: 19-12-2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tiến |
| Các thẩm phán: | Ông Võ Ngọc Thông |
| Bà Trần Thị Kim Liên |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong; Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng; Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 596/2022/TLPT - HS ngày 07 tháng 11 năm 2023. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST-CTN ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Bị cáo có kháng cáo:
PHẠM THỊ VÂN A (tên gọi khác: L), sinh ngày 08/7/1981 tại Gia Lai; nơi ĐKHKTT: Tổ E, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nơi tạm trú: Số H L, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: Làng T, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tú M, sinh năm 1941 (đã chết) và bà Phạm Thị Việt Đ, sinh năm 1952; có chồng tên Ninh Duy S, sinh năm 1980 (đã chết); có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2022. Hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh G. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Vân A: Luật sư Hoàng Thị Như N – Văn phòng Luật sư Hứa Hoàng G thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Ninh Duy H (Sinh năm: 1993, trú tại: Thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định) là em chồng của Phạm Thị Vân A. Vào tháng 3/2022, Ninh Duy H vào tỉnh Gia Lai và thuê trọ tại tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Thời gian này H thường hay đến nhà trọ của Phạm Thị Vân A thuê tại số H L, tổ F, phường T, thành phố P (nhà do Vân A thuê của ông Hồ Văn T, SN: 1965, nơi thường trú: 24 Đ, thành phố phố K, tỉnh Kon Tum) chơi và Ninh Duy H đã rủ rê, lôi kéo móc nối với Vân A để thực hiện hành vi dụ dỗ, lừa gạt các bị hại nhằm bán sang Campuchia để thu lợi bất chính.
+ Lần thứ nhất: Khoảng giữa tháng 4/2022, Ninh Duy H đi tìm kiếm và dụ dỗ, lừa gạt được 04 nam thanh niên (Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch) và đưa họ đến nhà trọ số H đường L, tổ F, phường T, thành phố P. Sau đó, H nói Vân A đặt cho H 01 vé máy bay từ thành phố P đi thành phố Hồ Chí Minh để H bay vào thành phố Hồ Chí Minh trước và đặt 04 vé xe khách giường nằm đi thành phố Hồ Chí Minh cho 04 nam thanh niên kia đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Khi 04 thanh niên kia đi vào thành phố Hồ Chí Minh, H đón họ tại thành phố Hồ Chí Minh rồi đưa họ sang Campuchia. Sau khi sang Campuchia, H sử dụng mạng xã hội Facebook nick “Đời phiêu bạt” báo cho Vân A biết là mình và những người đi cùng đang ở C bên Campuchia.
+ Lần thứ hai: Ninh Duy H sau khi dụ dỗ được 05 người để chuẩn bị đưa sang Campuchia bán thì vào ngày 27/4/2022, Ninh Duy H điện thoại cho Phạm Thị Vân A nói có 05 người đi Campuchia và bảo Vân A đặt 05 vé xe khách đi thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 15 giờ ngày 27/4/2022, có 05 người đến nhà Vân A gồm: Vũ Văn T1, Lê Đình H1 (Sinh năm: 1997, trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố P), Bùi Quang V (Sinh ngày: 05/9/2006, trú tại: Số B đường P, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum), Đinh Hữu Đ1 (Sinh ngày: 19/8/2003, trú tại: Tổ G, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum) và 01 người tên là M1 (nhà ở thành phố P) đi đến nhà trọ của Vân A tại số H đường L, thành phố P đến nhà trọ của Vân A để tập trung đi thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, theo sự bố trí của H, Vân A đưa 08 triệu đồng cho T1 để lo chi phí đi đường cho 05 người và đưa số điện thoại của H cho T1 để liên lạc với H đưa người sng Campuchia. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Trụ, H1, V, Đ1 và M1 đi xe taxi ra Bến xe Đ và lên xe khách do Vân A đặt trước đó đi vào thành phố Hồ Chí Minh rồi Trụ liên hệ H đưa sang Campuchia. Sau đó, H đã bán 05 người này cho sòng bài Casino Rich World do người Trung Quốc làm chủ để làm việc.
+ Lần thứ ba: Trong tháng 5/2022, thông qua mối quan hệ ngoài xã hội Võ Trung T2 được một người tên là Trần Thị Lan A1 (Hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ) rủ T2 sang Campuchia làm việc, thì T2 đồng ý. Sau đó, Trần Thị Lan A1 hướng dẫn T2 đến số nhà H đường L, thành phố P gặp Phạm Thị Vân A để nhận tiền đi Campuchia. Tại đây, Vân A bố trí cho T2 nghỉ ngơi. Sau đó, mua vé xe khách cho T2 đi vào thành phố Hồ Chí Minh và bảo T2 liên lạc với Ninh Duy H để đưa sang Campuchia. Sau đó, H bán T2 cho sòng bài Casino Rich World do người Trung Quốc làm chủ để làm việc.
- Sau khi Vũ Văn T1, Võ Trung T2 bị Ninh Duy H và Phạm Thị Vân A lừa sang Campuchia bán làm việc cho Casino Rich World. Trong thời gian làm việc tại đây, H có gặp T1 và T2 nói nếu T1 và T2 rủ được người để H đưa sang Campuchia thì H sẽ chia cho T1 và T2 2.000.000 đồng/01 người. Nghe vậy, T1 và T2 đồng ý, cụ thể:
+ Lần thứ nhất: Trong tháng 4/2022, Vũ Văn T1 điện thoại cho Nguyễn Tuấn H2 dụ dỗ, lừa đảo H2 sang Campuchia làm việc, H2 đồng ý sau đó rủ Nguyễn Thanh H3 cùng đi. Sau đó Trụ báo lại cho H biết việc này và H điện thoại báo cho Vân A biết sẽ có 02 người đến nhà trọ của Vân A để chuẩn bị đi Campuchia gồm: Nguyễn Tuấn H2 (Sinh năm: 1997, trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố P) và Nguyễn Thanh H3 (Sinh năm: 1997, trú tại: Tổ D, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai). Khoảng 18 giờ ngày 22 tháng 4 năm 2022, H2 và H3 đón xe đến số nhà H đường L, thành phố P gặp Vân A thì Vân A đưa cho H2, H3 mỗi người 02 triệu đồng và số điện thoại của H, bảo họ đón xe đi đến tỉnh An Giang, khi nào đến tỉnh An Giang thì gọi điện thoại để H hướng dẫn sang Campuchia. Khi sang đến C thì H, Trụ bán H2 và H3 cho sòng bài Casino Rich World do người Trung Quốc làm chủ để làm việc.
+ Lần thứ hai: Tháng 5/2022 (ngày chưa xác định), Ninh Duy H đã lừa được M và V1 (Hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ); Võ Trung T2 đã lừa được Huỳnh Văn T3 (Sinh ngày: 04/8/2004, trú tại: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) để chuẩn bị đưa sang Campuchia bán. Lúc này, T1 nói với H sắp xếp cho bạn gái của T1 là Dương Thị H4 (Sinh ngày: 05/01/1993, trú tại: Tổ D, phường H, T, tỉnh Gia Lai) đi qua Campuchia ở cùng với T1 thì H đồng ý. Sau đó, H gọi điện báo cho Vân A đặt vé và đưa tiền cho 04 người đi Campuchia gồm: Dương Thị H4, Huỳnh Văn T3 cùng M và V1. Khi 04 người này đi đến số nhà H đường L, thành phố P gặp Vân A thì Vân A đưa cho Hợp số tiền 3,5 triệu đồng để chi phí tiền xe, ăn uống cho 04 người trên đường đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Vân A đưa số điện thoại của H và Trụ cho H4 rồi dặn H4 khi đến thành phố Hồ Chí Minh thì gọi điện cho H và T1 để họ dẫn sang Campuchia. Khi qua đến Campuchia thì H đã bán T3, M và V1 cho sòng bài Casino Rich World do người Trung Quốc làm chủ để làm việc rồi thu lợi bất chính. Việc bán Huỳnh Văn T3 thì H chưa chia tiền cho T2.
+ Lần thứ ba: Với thủ đoạn tương tự, sau khi Võ Trung T2 đã rủ rê lừa được Trương Hà L1 (Sinh ngày: 28/3/2007, trú tại: Thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) đồng ý đi Campuchia để lao động thì T2 báo lại cho H biết việc này. Vào ngày 25/5/2022, Ninh Duy H gọi điện cho Vân A nói có 01 người sẽ đên nhà Vân A để đi Campuchia. Sau đó, Trương Hà L1 đón xe Taxi đến số nhà H đường L, thành phố P, tỉnh Gia Lai gặp Vân A. Lúc này, Vân A trả tiền taxi và bảo L1 vào nhà ngồi nghỉ ngơi rồi Vân A gọi đặt vé xe khách cho L1 đi thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Vân A đưa cho L1 02 triệu đồng và số điện thoại của H và dặn L1 khi đến thành phố Hồ Chí Minh thì gọi điện thoại cho H để H đưa sang Campuchia. Khi qua Campuchia Trương Hà L1 bị H bán vào làm việc cho sòng bài Casino Rich World do người Trung Quốc làm chủ để làm việc rồi thu lợi bất chính. Việc bán Trương Hà L1 thì H chưa chia tiền cho T2.
+ Lần thứ tư: Vào ngày 03/6/2022, Vũ Văn T1 đã gọi điện cho A T4 dụ dỗ đi làm việc nhẹ lương cao tại thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang, lương tháng từ 15-17 triệu đồng và bảo T4 rủ thêm bạn bè cùng đi. Nghe vậy, A T4 đã rủ A T5, A L2, A Lê Ngọc S1 và A Y (đều trú cùng thôn K, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum) đang làm việc cho Công ty chế biến gỗ tại tỉnh Bình Phước cùng đi theo. Sau đó, thông qua T1, H đã chuyển cho A T4 7.000.000 đồng để T4 cùng 04 người kia chi phí tiền xe và ăn uống đi từ B đến biên giới tỉnh An Giang, rồi Trụ đưa số điện thoại của A T4 cho bà Nguyễn Thị L3 và ông Lê Văn D (Trú tại thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang) đón nhóm của A T4 vượt biên sang Campuchia giao cho H. Sau đó, H đã bán A T4, A T5, A L2, A Lê Ngọc S1 và A Y vào sòng bài Casino Rich World do người Trung Quốc làm chủ để làm việc (H thu lợi bất chính bao nhiêu Trụ không rõ), H chia cho Trụ 10.000.000 đồng.
Về tình trạng các bị hại tại Campuchia: Sau khi bị Ninh Duy H cùng Phạm Thị V2 anh, Vũ Văn T1 và Võ Trung T2 tuyển mộ, lừa gạt đưa sang Campuchia và bán cho Casino Rich W. Các bị hại bị ép ký hợp đồng làm việc 06 tháng đến 12 tháng (nhằm đối phó với các cơ quan chức năng Campuchia kiểm tra và đề phòng các bị hại bỏ trốn, tố cáo chính quyền...), công việc hàng ngày sử dụng mạng Internet, tạo app lừa gạt chiếm đoạt tài sản của người khác, phải làm việc liên tục từ 08h sáng đến 23h, bóc lột sức lao động, nếu không đạt chỉ tiêu do công ty giao thì bị đánh đập, bỏ đói, gây áp lực, đe doạ, yêu cầu các bị hại gọi về Việt Nam đòi tiền chuộc từ 70 – 200 triệu đồng, nếu không sẽ bán cho Công ty khác với giá chuộc cao hơn, khiến các bị hại và gia đình lo sợ bị ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ buộc phải nghe theo lời các đối tượng quản lý.
- Đối với Trương Hà L1: Bị yêu cầu chuộc với số tiền 200 triệu đồng, nhưng lấy lý do gia đình có người chết xin về chịu tang nên sau đó thỏa thuận xin giảm và được Ninh Duy H đồng ý cho chuộc 35 triệu đồng (do T2 đứng ra bảo lĩnh), L1 đã gọi về gia đình nhờ giải cứu. Từ ngày 03/6 đến ngày 06/6/2022 bà Nguyễn Thị Xuân T6 đã chuyển số tiền 35 triệu đồng qua tài khoản Ngân hàng của Võ Trung T2. Sau đó, L1 được Công ty cho người đưa về biên giới Tây Ninh - Việt Nam rồi về nhà an toàn.
- Đối với Huỳnh Văn T3: Bị yêu cầu chuộc với số tiền 60 triệu đồng. Từ ngày 10/9 đến ngày 12/9/2022 bà Nguyễn Thị T7 (mẹ Huỳnh Văn T3) đã chuyển số tiền 60 triệu đồng theo yêu cầu của phía Công ty và sau đó T3 được Công ty cho người đưa về biên giới Tây Ninh - Việt Nam rồi về nhà an toàn.
- Đối với A T4, A L2, A T5, A Lê Ngọc S1 và A Y: Sau khi bị bán, Công ty yêu cầu muốn về thì phải chuộc mỗi người với số tiền 150 triệu đồng. Giữa tháng 7/2022, lợi dụng sự mất cảnh giác của bảo vệ Công ty, 05 bị hại này đã bàn nhau bỏ trốn khỏi Casino Rich W Campuchia bơi qua sông B về phía tỉnh An Giang - Việt Nam, được lực lượng biên phòng An Giang và Công an xã I, tỉnh Kon Tum phối hợp giúp đỡ, hỗ trợ xác minh làm rõ nhân thân và trao trả về địa phương an toàn.
- Đối với Lê Đình H1, Nguyễn Tuấn H2, Bùi Quang V và Đinh Hữu Đ1: Sau khi bị bán, Công ty yêu cầu muốn về thì phải chuộc mỗi người với số tiền từ 70 đến 150 triệu đồng. Khoảng 09 giờ ngày 18/8/2022, lợi dụng sự mất cảnh giác của bảo vệ của Công ty C đã cùng với khoảng 40 người khác bỏ trốn khỏi Casino - Campuchia bơi qua sông về Việt Nam, được lực lượng biên phòng A2 cùng các cơ quan chức năng hỗ trợ, giúp đỡ, giải cứu. Tuy nhiên, Nguyễn Tuấn H2 bị vấp ngã và bị bảo vệ phía Casino bắt được và đánh đập gây thương tích. Đến ngày 12/9 thì được lực lượng Công an Campuchia truy quét, phát hiện giải cứu và trao trả về Việt Nam an toàn.
- Đối với Nguyễn Thanh H3 (Sinh ngày: 1997, trú tại: Tổ D, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai) và những người có tên M1, M, V1...Theo lời khai của các bị hại đi cùng thể hiện có gặp họ tại nhà trọ của Vân A, sau đó đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến tỉnh An Giang và bị bán sang Campuchia. Tuy nhiên, đến nay không biết tình trạng của họ như thế nào. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh để hỗ trợ, giải cứu.
Sau sự việc ngày 18/8/2022 thời sự đưa tin 42 người lao động Việt Nam bị bóc lột sức lao động bỏ trốn khỏi Casino Rich W Campuchia bơi qua sông B về phía tỉnh An Giang - Việt Nam (Trong đó, có nhiều bị hại do các bị cáo lừa gạt như nêu trên), thì Ninh Duy H, Vũ Văn T1 và Võ Trung T2 bàn bạc, xoá dữ liệu trên điện thoại, tắt máy nhằm đối phó với các cơ quan chức năng và không liên lạc với Phạm Thị Vân A nữa. Sau khi biết sự việc bị phát hiện, ngày 16 tháng 9 năm 2022 Phạm Thị Vân A ra đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động hiệu SamSung kiểu máy Galaxy A11, màu xanh đen (số imeil 356938142977686/01, điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong). Ngày 11 tháng 12 năm 2022, Vũ Văn T1 ra đầu thú. Ngày 08 tháng 02 năm 2023, Võ Trung T2 ra đầu thú và khai nhận toàn bộ sự việc như đã nêu trên.
Với nội dung vụ án được tóm tắt như trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST-CTN ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị Vân A và Võ Trung T2 phạm các tội “Mua bán người” và “Mua bán người dưới 16 tuổi”; bị cáo Vũ Văn T1 phạm tội “Mua bán người”.
- Căn cứ điểm d, đ, e khoản 2 Điều 150; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Vân A 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán người”.
Căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 151; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Vân A 14 (mười bốn) năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Tố tụng hình sự tổng hợp hình phạt, xử phạt bị cáo Phạm Thị Vân A 24 (hai mươi bốn) năm tù về cả hai tội. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2022.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn Quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Võ Trung T2, Vũ Văn T1 và quyết định về: Trách nhiệm dân sự; Xử lý vật chứng, Biện pháp tư pháp, Án phí, quy định về thi hành án, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 10/10/2023, bị cáo Phạm Thị Vân A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì hình phạt mà Bản án sơ thẩm quyết định đối với bị cáo là quá nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho những người bị hại, nộp án phí theo quyết định của Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa: bị cáo Phạm Thị Vân A vẫn giữ nguyên các nội dung kháng cáo; Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của Bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST-CTN ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai; Luật sư bào chữa cho Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
Sau khi nghe: Bị cáo trình bày nội dung, căn cứ kháng cáo; quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án; căn cứ bào chữa của Luật sư bào chữa cho Bị cáo và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2022, bị cáo Phạm Thị Vân A cùng với các bị cáo khác đã thực hiện hành vi mua bán người, mua bán người dưới 16 tuổi ra ngoài biên giới Việt Nam; trong đó, bị cáo Phạm Thị Vân A đã giúp sức cho đồng phạm thực hiện 06 lần mua bán 14 bị hại người và giúp sức để thực hiện 02 lần mua bán 02 người bị hại dưới 16 tuổi (là Bùi Quang V, sinh ngày 05/9/2006 và Trương Hà L1, sinh ngày 28/3/2007) đưa ra khỏi biên giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với hành vi và hậu quả như trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST-CTN ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tuyên bố bị cáo Phạm Thị Vân A phạm các tội “Mua bán người” và “Mua bán người dưới 16 tuổi”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 150 và khoản 2 Điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Thị Vân A thì thấy: bị cáo Phạm Thị Vân A đã giúp sức cho đồng phạm thực hiện 06 lần mua bán 14 bị hại người và giúp sức để thực hiện 02 lần mua bán 02 người bị hại dưới 16 tuổi. Hành vi của Bị cáo bị truy tố và xét xử về các tội “Mua bán người” theo quy định tại các điểm d, đ, e khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 08 năm đến 15 năm và tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo quy định tại các điểm đ, e khoản 2 Điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 10 năm tù về tội “Mua bán người”, 14 năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” là tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả mà bị cáo cáo đã gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có tác động gia đình bồi thường thêm số tiền 3.000.000 đồng nhưng việc bồi thường này không giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận.
[3]. Quyết định của Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Võ Trung T2, Vũ Văn T1 và các Quyết định về: Trách nhiệm dân sự; Xử lý vật chứng, Biện pháp tư pháp, Án phí sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và được thi hành theo quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST-CTN ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
[4]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Thị Vân A. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST-CTN ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Án phí phúc thẩm:
- Các quyết định của Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Võ Trung T2, Vũ Văn T1 và quyết định về: Trách nhiệm dân sự; Xử lý vật chứng, Biện pháp tư pháp, Án phí sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và được thi hành theo quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST-CTN ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Áp dụng: điểm d, đ, e khoản 2 Điều 150; điểm đ, e khoản 2 Điều 151; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Vân A 10 (M2) năm tù về tội “Mua bán người”, 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội mà Bị cáo phải chấp hành 24 (Hai bốn ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2022.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Thị Vân A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Tiến |
8
Bản án số 612/2023/HS-PT ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm về tội mua bán người và mua bán người dưới 16 tuổi
- Số bản án: 612/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Mua bán người và Mua bán người dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Thị Vân A. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST-CTN ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
