|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 611/2024/HS-ST
Ngày: 03 – 12 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Bà Võ Thị Gái
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Lữ Ngọc Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 530/2024/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 617/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 137/2024/QĐST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Văn T, tên gọi khác: Q, sinh năm: 1983; tại tỉnh Thanh Hoá; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Nhà không số, đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đặng Văn B (Đã chết) và bà Trần Thị T1 (Đã chết); Vợ là Trần Thị Nhiễu T2; Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 09/5/2006, Đặng Văn T bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2006/HSST. Ngày 28/4/2007, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, đã đóng án phí ngày 23/9/2006.
- Ngày 04/9/2018, Đặng Văn T bị tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 293/2018/HSST. Ngày 29/4/2019, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, đã đóng án phí ngày 08/11/2018.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Xuân K, ông Nguyễn Thế L, Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (Ông K, ông L có mặt).
Bị hại:
- Ông Landra Marco A, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số B, đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Ông Logan S, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số B, đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt)
- Ông Leon H De Wet, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số B, đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Công ty TNHH H2; Trụ sở: Số B, đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông David Joseph M, sinh năm 1960; (Vắng mặt) Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Nam Đ, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số B, đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy ủy quyền ngày 08/4/2024. (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Trần Bá N, sinh năm 1985; Địa chỉ thường trú: Số A, Tầng A, khối B, chung cư L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 10/4/2024, Đặng Văn T đặt xe ôm công nghệ đi từ địa chỉ nhà không số, đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương đến khu vực phường T, thành phố T với mục đích tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt rồi bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi T mang theo 01 balo màu đen (bên trong gồm: 01 mũ vải màu đen, 01 tua vít bằng kim loại, 01 xà beng bằng kim loại; 01 đôi găng tay cao su màu xanh, 02 sợi dây dù màu xanh, 01 đoạn đèn cầy, 01 khẩu trang).
Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, T nhìn thấy trước nhà số B N, phường T của ông Landra Marco A (sinh năm 1961, Quốc tịch I, hiện là Giám đốc công ty A1 có trụ sở tại Việt Nam và đang tạm trú tại Việt Nam theo thẻ tạm trú số HM041300 LA2 do Công an Thành phố H cấp) thuê ở, khóa cổng ngoài, nên T ngồi đợi và quan sát cho đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 11/4/2024, T trèo tường đột nhập từ phía cổng chính vào bên trong nhà tại phòng khách tầng trệt, T thấy 01 laptop hiệu Macbook màu trắng để trên bàn tại phòng khách nên lấy trộm rồi tiếp tục đi lên tầng 1 thì phát hiện 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu đen, 02 đồng hồ đeo tay điện tử, 01 cặp tai nghe Ipod và 26 tờ tiền nước ngoài với nhiều mệnh giá khác nhau (gồm: 51 SGD tiền Singapor, 13.000KRW tiền Hàn Quốc, 50 EUR tiền C, 5 GBP tiền Anh, 1.700 HKD tiền Hồ N) của ông Landra Marco A nên đã lấy toàn bộ số tài sản trên bỏ vào ba lô mang theo rồi tẩu thoát ra ngoài.
Sau khi ra ngoài, T thấy nhà đối diện địa chỉ số B N, phường T của anh Logan S (sinh năm 1974, Quốc tịch Nam Phi, đang là nhân viên văn phòng cho một công ty tại Việt Nam và tạm trú tại Việt Nam) thuê ở, cũng khóa cổng ngoài, không người trông coi nên T tiếp tục trèo tường đột nhập từ phía cổng chính vào phía trong nhà tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Tại vị trí phòng khách, T phát hiện 01 túi xách màu trắng hiệu Michael Kors để dưới nền nhà, bên trong có 01 Ipad Pro màu xám gắn liền với 01 bàn phím Apple màu trắng của anh L1 Shaun nên T đã lấy số tài sản trên bỏ vào ba lô rồi tẩu thoát ra ngoài. Khi ra ngoài, T đặt xe taxi hiệu M2 do anh Phạm Thành N1 là tài xế để thuê chở về nhà ở địa chỉ N, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi vừa lên taxi đi được một đoạn đến trước địa chỉ số H đường T, phường T thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện T cùng toàn bộ tang vật vừa trộm cắp được.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đặng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên.
Bản Kết luận định giá tài sản số 87-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 16/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air trị giá 5.970.000 đồng; 01 máy tính bảng hiệu S1 Tab S6 màu đen trị giá 3.930.000 đồng; 01 cặp tai nghe Ipod 2 màu trắng trị giá 500.000 đồng. Đối với 02 đồng hồ điện tử màu đen, dây bằng nhựa màu đen, không có hóa đơn chứng từ, xuất xứ, chủng loại, thông số kỹ thuật, tình trạng sử dụng để xác định được giá trị...nên Hội đồng định giá từ chối định giá.
Đối với 26 tờ tiền nước ngoài với nhiều mệnh giá khác nhau mà T đã trộm cắp của ông Landra Marco A, căn cứ theo công văn số 3460/NHNo.TĐ-KTNQ ngày 12/9/2024 của Ngân hàng N2, chi nhánh T4 cung cấp bảng giá quy đổi các loại ngoại tệ sang VNĐ ngày 11/4/2024, xác định: 51 SGD tiền Singapore trị giá 922.641 đồng; 13.000 KRW tiền Hàn Quốc trị giá 228.020 đồng; 50 EUR tiền Châu Âu trị giá 1.314.000 đồng; 5 GBP tiền Anh trị giá 153.125 đồng; 1.700 HKD tiền Hồng Kông trị giá 5.524.170 đồng.
Bản kết luận định giá số 51A-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 máy tính bảng Ipad Pro 2022 M2 5G màu xám, 12.9inch, 256 GB trị giá 21.833.300 đồng, 01 bàn phím Ipad Pro 12.9 Magic Keyboard màu trắng trị giá 3.433.300 đồng, riêng đối với 01 túi xách màu trắng hiệu Michael Kors không có hóa đơn chứng từ nên Hội đồng định giá không có cơ sở để định giá.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vào ngày 11/4/2024 nêu trên là 43.858.556 đồng.
Ngoài ra, Đặng Văn T còn khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác tại phường T, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, Đặng Văn T đi bộ trên đường N để tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đến địa chỉ số B N, khu phố F, phương T, thành phố T, T phát hiện nhà không có người trông coi nên trèo qua hàng rào lên hành lang giữa hai tòa nhà, đến ban công lầu 1, phòng 101 của anh L2 Hug De Wet (sinh năm 1998, Quốc tịch: Nam Phi, là giáo viên trường tiểu học tại Việt Nam, thẻ tạm trú số HM033454LĐ2 do Công an Thành phố H cấp) thuê ở, T dùng tua vít khoan 01 lỗ nhỏ ở dưới ổ khóa cửa bên ban công phòng 101, rồi dùng tua vít đẩy chốt, mở cửa vào trong nhà. Sau đó, T dùng đèn pin soi tìm tài sản và lấy trộm được 01 máy tính xách tay màu đen hiệu Acer Aspire; 01 máy tính xách tay màu đen hiệu Lenovo, 200 USD và 6.000.000 đồng tiền mặt của anh L2 Hug De Wet, T cất 02 máy tính vừa trộm được vào balo còn tiền T cất vào túi quần đang mặc rồi tẩu thoát. Sau đó, T đăng lên mạng Facebook bán 02 máy tính trên cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) được 2.300.000 đồng, còn 200USD Tư bán lại cho một tiệm vàng ở Quận A được khoảng 4.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.
Riêng đối với 150 Zar (tiền N) bị hại trình báo mất nhưng T không thừa nhận lấy trộm nên không có căn cứ xác định giá trị để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.
Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 39-KV1/KLĐG- HĐĐGTS ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 (một) laptop hiệu Acer Aspire màu đen trị giá 4.066.700 đồng; 01 laptop hiệu Lenovo màu đen trị giá 2.500.000 đồng; 200 USD trị giá 4.992.000 đồng và 6.000.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 17.558.700 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, T phát hiện nhà số B N, phường T, thành phố T (là văn phòng của Công ty TNHH H3, do ông David Joseph M làm đại diện theo pháp luật) khóa cổng ngoài, không người trông coi nên trèo tường đột nhập từ phía cổng chính vào bên trong lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu HP 840 G6 tại phòng khách tầng trệt, sau đó đi lên tầng 1 lấy trộm thêm 07 máy tính xách tay hiệu HP (gồm 06 laptop HP Elite 840 và 01 laptop HP Elitebook 630 G10 i7), bỏ toàn bộ vào ba lô rồi tẩu thoát ra ngoài. Đến khoảng 10 giờ 43 phút ngày 06/4/2024, T liên hệ với anh Trần Bá N thông qua số điện thoại 0931.797.xxx để bán 06 máy tính xách tay hiệu HP cho N. T nói 06 máy tính xách tay là của khách cầm đồ quá hạn để lại nên thanh lý lại. Do bản thân làm công việc môi giới nhà đất, cần nhiều máy tính để chạy quảng cáo và bán lại kiếm lời, đồng thời anh N biết T trước đây do cùng làm chung môi giới nhà đất và thấy T đăng hình trên mạng xã hội là có mở tiệm cầm đồ và sửa chữa máy tính tại nhà nên khi nghe T nói có máy tính xách tay của khách cầm đồ quá hạn cần thanh lý nên đồng ý mua. Khoảng 09 giờ 00 ngày 07/04/2024, T và N hẹn gặp nhau ở quán C, địa chỉ H K, phường L, thành phố T và thống nhất mua 06 laptop HP trên với giá 26.000.000 đồng, anh N trả cho T bằng tiền mặt, sau đó T đã tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan Công an tiến hành khám xét thu toàn bộ tang vật trên tại nhà N và trả lại cho bị hại. Còn 01 laptop hiệu HP, T đăng bán lên mạng xã hội “Facebook” và đã bán cho người thanh niên (không rõ lai lịch) được 3.500.000 đồng; 01 laptop hiệu HP khác, T cất giấu ở nhà, sau đó Cơ quan Công an đã khám xét thu hồi.
Đối với 01 laptop Dell Latitude 7340XCOTO Core i7 và 01 Apple Ipad Pro 256GB kèm 01 bàn phím Apple Magic Keyboard để ở tầng 2, Đăng Văn T3 xác định không lên tầng 2 và không lấy trộm tài sản trên nên không có căn cứ để xác định giá trị tài sản làm căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với T3.
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 51-KV1/KLĐG-HĐ ĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 06 máy tính nhãn hiệu HP Elitebook 840-Intel® Core I7-9665U 16GB 512GB SSD, màu bạc trị giá 69.400.020 đồng (11.566.670 đồng/01 máy); 01 máy tính xách tay (NB) HP 840 G6 i7-1165G7 trị giá 8.533.300 đồng; và 01 máy tính xách tay (NB) HP Elitebook 630 G10 i7- 1335U trị giá 8.100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 05/4/2024 là 86.033.320 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản và tiền do Đặng Văn T đã trộm cắp tài sản vào ngày 18/3/2024 tại nhà số 216/22 Nguyễn Văn H1; ngày 06/4/2024 tại nhà số 216/1/11 Nguyễn Văn H1; ngày 11/4/2024 tại khu vực nhà số B và nhà số B N, phường T là 147.450.576 đồng
*Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) ba lô màu đen, bên trong ba lô có: 01 (một) mũ vải, màu đen; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài 23cm, cán dài 8cm đã qua sử dụng; 01 xà beng bằng kim loại dài 34 cm; 01 (một) cặp găng tay cao su màu xanh; 01 (một) khẩu trang vải, màu xanh có chữ SP20; 01 sợi dây dù màu xanh dài khoảng 5,52 mét; 01 sợi dây dù màu xanh dài khoảng 8,4 mét; 01 (một) đoạn đèn cầy hình trụ tròn màu đỏ dài khoảng 07cm; 01 (một) đôi dép da nam, màu đen size 38; 01 (một) áo thun size XL ngắn tay màu xám.
- - 01 (một) xà beng bằng kim loại màu đen dài khoảng 40cm (thu giữ tại nhà T).
- (Theo quyết định chuyển vật chứng số 352/QĐVKSTPTĐ ngày 24/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và phiếu nhập kho vật chứng số NK25/013C ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
- - 01 Ipad Pro dung lượng 256 GB màu xám, số seri HYX91X7DHW, số IMEI: 358705114388491, 01 bộ bàn phím trắng đã qua sử dụng và 01 (một) túi xách da màu trắng có tay xách màu đen, trên thân túi có dòng chữ MICHAEL KORS. Ngày 08/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại các tài sản trên cho anh Logan S.
- - 26 tờ tiền nước ngoài với nhiều mệnh giá khác nhau (gồm: 51 SGD tiền Singapor, 13.000KRW tiền Hàn Quốc, 50 EUR tiền C, 5 GBP tiền Anh, 1.700 HKD tiền Hồ N); 01 (một) Macbook Air màu xám, phía sau thân máy có dòng chữ Designed By Apple in California Asembled in China Model A1466 EMC 2925 Rated 14.85V 3.05max. Contains FCC ID: QDS-BRCM1072 and IC: 4324A-BRCM1072 CAN ICES-3(B)/NMB-3(B) Serial C1MQK1AAG941 đã qua sử dụng; 01 (một) máy tính bảng Samsung màu đen, phía sau thân máy có dòng chữ PO BOX 12987, Dublin, IE MODEL: SM-R500 RATED:5 V 1.0A đã qua sử dụng; 01 (một) đồng hồ đeo tay, mặt đồng hồ màu đen, dây đồng hồ bằng nhựa màu đen. Phía sau mặt đồng hồ có dòng chữ Samsung glaxy watch S/N: RFAR930YWSY MODEL: SM-R860 đã qua sử dụng; 01 (một) cặp tai nghe màu trắng đựng trong hộp nhựa màu trắng. Bên ngoài hộp nhựa có dòng chữ Designed By Apple in California Asembled in China đã qua sử dụng. Ngày 19/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại các tài sản trên cho bà Trần Thị Hương G, người được ông Landra Marco A ủy quyền.
- - 01 (một) máy tính xách tay hiệu HP Elitebook 840-Intel ® Core I7-9665U 16GB 512GB SSD, màu bạc (thu giữ tại nhà T); 19 máy tính xách tay các loại kèm 04 cục sạc thu giữ tại nhà Trần Bá N.
- Qua điều tra xác định được 06 máy tính gồm: 05 máy tính HP Elitebook 840-Intel® Core I7-9665U 16GB 512GB SSD màu bạc và 01 máy tính xách tay (NB) HP Elitebook 630 G10 i7 là do T trộm cắp được của Công ty TNHH H3. Ngày 06/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại 07 máy tính trên (gồm 06 máy tính thu được ở nhà anh N và 01 máy tính thu được tại nhà T) cho anh Nguyễn Hoàng Nam Đ, là đại diện của Công ty TNHH H3. Đối với 13 máy tính xách tay còn lại là tài sản của anh Trần Bá N, không phải tài sản do T phạm tội mà có nên ngày 19/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Trần Bá N.
- - 01 máy tính nhãn hiệu HP Elitebook 840-Intel ® Core I7-9665U 16GB 512GB SSD, màu bạc (không thu hồi được).
- - 01 (một) laptop hiệu Acer Aspire màu đen; 01 laptop hiệu Lenovo màu đen và 200 USD (không thu hồi được).
- - 02 USB chứa các đoạn video có liên quan đến vụ án (lưu kèm hồ sơ vụ án).
Trách nhiệm dân sự:
- - Người bị hại: ông Landra Marco A và anh Logan S đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì thêm.
- - Người bị hại: Công ty TNHH H3 có anh Nguyễn Hoàng Nam Đ là người đại diện đã nhận lại 07 máy tính xách tay bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường thêm đối với số tài sản không thu hồi được.
- - Người bị hại: Anh Leon Hug De W đã nhận 15.000.000 là tiền bồi thường thiệt hại cho số tài sản bị chiếm đoạt, anh L2 không yêu cầu gì thêm, có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 499/CT-VKSTPTĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Đặng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo, luật sư Trần Xuân K và luật sư Nguyễn Thế L trình bày: hai luật sư đều thống nhất với tội danh mà đại diện Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Đặng Văn T. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại. Mặt khác, bị cáo có nơi cư trú ổn định. Bị cáo lại là lao động chính trong gia đình và có 02 con nhỏ. Nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo nợ nần từ việc kinh doanh bất động sản. Tại phiên tòa, bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình và cam kết sẽ trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để hòa nhập với cộng đồng, trở về với gia đình chăm sóc 02 con nhỏ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tranh luận: Các luật sư đưa ra các tình tiết như: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo nợ nần từ việc kinh doanh bất động sản và cho rằng đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51. Luận điểm trên hoàn toàn không có căn cứ. tại phiên tòa bị cáo cũng thừa nhận hai vợ chồng bị cáo không sống chung từ 01 năm nay. Số tiền do bị cáo làm việc và có được từ việc thực hiện hành vi trộm cắp được cũng để dành tiêu xài cho bản thân. Do đó, đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm bào chữa của luật sư.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý với kết luận định giá tài sản và không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận định giá, vật chứng thu giữ, các đoạn camera giám sát... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát, nên có cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 11/4/2024, tại nhà số B, N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đặng Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 laptop hiệu Macbook màu trắng; 01 máy tính bảng Samsung màu đen; 02 đồng hồ đeo tay điện tử; 01 cặp tai nghe I và 26 tờ tiền nước ngoài với các mệnh giá khác nhau của anh Landra Marco A. Sau đó, T tiếp tục đột nhập nhà số B N, phường T của anh Logan S lấy 01 túi xách màu trắng hiệu Michael Kors, 01 Ipad Pro màu xám, 01 bàn phím Apple màu trắng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt của ngày 11/4/2024 là 43.858.556 đồng; Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, Đặng Văn T lén lút đột nhập vào nhà tại địa chỉ số B N, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và chiếm đoạt 01 máy tính xách tay màu đen, hiệu A2; 01 máy tính xách tay màu đen, hiệu Lenovo Ideapad 300; 200 USD (đô la Mỹ) và 6.000.000 đồng tiền mặt của anh Leon Hug De W (Quốc tịch: Nam Phi). Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 17.558.700 đồng; Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/4/2024, Đặng Văn T lén lút đột nhập vào nhà tại địa chỉ số B N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và chiếm đoạt 06 máy tính xách tay nhãn hiệu HP Elitebook 840-Intel ® Core I7 – 9665U16; 01 máy tính xách tay (NB) HP 840 G6 i7 màu bạc và 01 máy tính xách tay (NB) HP Elitebook 630 G10 i7, của Công ty TNHH H3. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 86.033.320 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà Đặng Văn T đã chiếm đoạt trong các vụ nêu trên là 147.450.576 đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn vi phạm, bị cáo đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 147.450.576 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 147.450.576 đồng nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả, được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng đến sự phát triển của văn hóa du lịch, làm giảm niềm tin của người nước ngoài khi đến Việt Nam. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án hai lần cùng về hình vi trộm cắp tài sản trước đó, bị cáo phạm tội hai lần trở lên, tuy nhiên bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối chiếu các quy định Điều 2 văn bản số 02/VBHN – TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao, bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo như đề nghị của người bào chữa, do đó không có căn cứ để chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) ba lô màu đen, bên trong ba lô có: 01 (một) mũ vải, màu đen; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài 23cm, cán dài 8cm đã qua sử dụng; 01 (một) xà beng bằng kim loại dài 34 cm; 01 (một) cặp găng tay cao su màu xanh; 01 (một) khẩu trang vải, màu xanh có chữ SP20; 01 sợi dây dù màu xanh dài khoảng 5,52 mét; 01 sợi dây dù màu xanh dài khoảng 8,4 mét; 01 (một) đoạn đèn cầy hình trụ tròn màu đỏ dài khoảng 07cm; 01 (một) đôi dép da nam, màu đen size 38; 01 (một) áo thun size XL ngắn tay màu xám; 01 (một) xà beng bằng kim loại màu đen dài khoảng 40cm (thu giữ tại nhà T). Đây là các công cụ, phương tiện Đặng Văn T dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 Ipad Pro dung lượng 256 GB màu xám, số seri HYX91X7DHW, số IMEI: 358705114388491, 01 bộ bàn phím trắng đã qua sử dụng; 01 (một) túi xách da màu trắng có tay xách màu đen, trên thân túi có dòng chữ MICHAEL KORS đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả lại cho anh Logan S vào ngày 08/5/2024 là có căn cứ.
Đối với 26 tờ tiền nước ngoài với nhiều mệnh giá khác nhau (gồm: 51 SGD tiền Singapor, 13.000KRW tiền Hàn Quốc, 50 EUR tiền C, 5 GBP tiền Anh, 1.700 HKD tiền Hồ N); 01 (một) Macbook Air màu xám, phía sau thân máy có dòng chữ Designed By Apple in California Asembled in China Model A1466 EMC 2925 Rated 14.85V 3.05max. Contains FCC ID: QDS-BRCM1072 and IC: 4324A-BRCM1072 CAN ICES-3(B)/NMB-3(B) Serial C1MQK1AAG941 đã qua sử dụng; 01 (một) máy tính bảng Samsung màu đen, phía sau thân máy có dòng chữ PO BOX 12987, Dublin, IE MODEL: SM-R500 RATED:5 V 1.0A đã qua sử dụng; 01 (một) đồng hồ đeo tay, mặt đồng hồ màu đen, dây đồng hồ bằng nhựa màu đen. Phía sau mặt đồng hồ có dòng chữ S2 S/N: RFAR930YWSY MODEL: SM-R860 đã qua sử dụng; 01 (một) cặp tai nghe màu trắng đựng trong hộp nhựa màu trắng. Bên ngoài hộp nhựa có dòng chữ Designed By Apple in California Asembled in China đã qua sử dụng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả lại cho bà Trần Thị Hương G (người được ông Landra M1 Adriano ủy quyền) vào ngày 19/9/2024 là có căn cứ.
- Đối với 19 máy tính xách tay các loại kèm 04 cục thu giữ tại nhà Trần Bá N:
Qua điều tra xác định: 06 máy tính thu giữa tại nhà anh N gồm: 05 máy tính HP Elitebook 840-Intel ® Core I7-9665U 16GB 512GB SSD màu bạc; 01 máy tính xách tay (NB) HP Elitebook 630 G10 i7 và 01 (một) máy tính xách tay thu giữ tại nhà T, hiệu HP Elitebook 840-Intel® Core I7-9665U 16GB 512GB SSD, màu bạc, tất cả là do T trộm cắp được của Công ty TNHH H3. Ngày 06/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại 07 máy tính trên cho Công ty TNHH H3 có anh Nguyễn Hoàng Nam Đ là người đại diện theo ủy quyền là có căn cứ.
13 máy tính xách tay còn lại là tài sản của anh Trần Bá N, không phải tài sản do T phạm tội mà có. Do vậy, ngày 19/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Trần Bá N là có căn cứ.
- 02 USB chứa các đoạn video có liên quan đến vụ án. Xét đây là dữ liệu điện tử, cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại:
- Ông Landra Marco A và anh Logan S không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Anh Nguyễn Hoàng Nam Đ, đại diện Công ty TNHH H3 không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Anh Leon H De Wet yêu cầu bị can bồi thường số tiền 15.000.000 đồng đối với số tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Bá N tự nguyện giao trả lại tài sản cho cơ quan điều tra và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ba lô màu đen, bên trong ba lô có: 01 (một) mũ vải, màu đen; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại dài 23cm, cán dài 8cm đã qua sử dụng; 01 (một) xà beng bằng kim loại dài 34 cm; 01 (một) cặp găng tay cao su màu xanh; 01 (một) khẩu trang vải, màu xanh có chữ SP20; 01 sợi dây dù màu xanh dài khoảng 5,52 mét; 01 sợi dây dù màu xanh dài khoảng 8,4 mét; 01 (một) đoạn đèn cầy hình trụ tròn màu đỏ dài khoảng 07cm; 01 (một) đôi dép da nam, màu đen size 38; 01 (một) áo thun size XL ngắn tay màu xám; 01 (một) xà beng bằng kim loại màu đen dài khoảng 40cm (thu giữ tại nhà T).
- (Theo quyết định chuyển vật chứng số 352/QĐVKSTPTĐ ngày 24/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và phiếu nhập kho vật chứng số NK25/013C ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- - Lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án 02 USB chứa các đoạn video có liên quan đến vụ án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- - Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thu |
Bản án số 611/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 611/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ĐẶNG VĂN T-TRỘM CẮP TÀI SẢN
