Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 611/2024/DS-PT

Ngày: 03 - 7 - 2024

V/v tranh chấp về yêu cầu tuyên bố

giao dịch dân sự vô hiệu và giải

quyết hậu quả của giao dịch dân sự

vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Út
Các Thẩm phán: Bà Châu Kim Anh
Ông Nguyễn Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hỷ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Phạm Duy Tuấn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 19, ngày 28 tháng 6 và ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 371/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 326/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2936/2024/QĐPT-DS ngày 31/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T; Cư trú tại: H L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; Cư trú tại: 2 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy uỷ quyền số công chứng 23140 ngày 14/6/2024 tại Văn phòng C, thành phố Hải Phòng) (có mặt).

Bị đơn: Bà Trần Thị Thu H1; sinh năm 1971

Địa chỉ: P số B N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền:Ông Lê Trọng N, sinh năm 1960; Cư trú tại: C T, Lầu A, N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy uỷ quyền số công chứng 004700 ngày 10/5/2024 tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt khi tuyên án)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Ngọc T1; sinh năm 1964; Cư trú tại: B B, Phường F (nay là Phường V), Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
  2. Bà Trần Thị T2; sinh năm ; Cư trú tại: 2 L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn bà Trần Thị Thu H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có người đại diện theo uỷ quyền là bà Quan Vân A trình bày:

Năm 2008, qua giới thiệu của bạn bè, bà T và bà Trần Thị Thu H1 quen biết nhau. Sau đó, bà H1 ngỏ ý chuyển nhượng cho bà T lô đất R11 thuộc dự án T tại xã P, huyện N của Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh nhà – Công ty T5 – Bộ Q (sau đây gọi tắt là Công ty T5) (nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T5) với giá 3.885.000.000 đồng. Sau nhiều lần gửi tiền nhưng không có giấy tờ biên nhận, đến ngày 09/3/2008, bà H1 đã viết cho T “Giấy bán đất” có nội dung bà H1 xác nhận đã bán cho bà T lô đất nêu trên, diện tích 210m² x 18.500.000 đồng = 3.885.000.000 đồng và xác nhận bà T đã trả đủ tiền cho bên bán. Ngày 10/3/2008, bà H1 dẫn bà T đến Công ty T5 và Công ty đã đồng ý để bà T góp vốn đầu tư nhận nền nhà xây dựng nhà ở trên khu đất quy hoạch xây dựng. Trong ngày 10/3/2008, bà T đã ký với Công ty T5 Hợp đồng góp vốn đầu tư để nhận nền nhà xây dựng nhà ở số 1003A/HĐGV/08, Biên bản giao nhận mã số lô đất ngày 10/3/2008 và đã thanh toán cho Công ty T5 60% tiền góp vốn là 315.000.000 đồng theo Phiếu thu lập cùng ngày. Tuy nhiên, qua tìm hiểu, được biết dự án nêu trên không tồn tại, bà T đã liên hệ yêu cầu Công ty T5 và bà H1 phải hoàn trả khoản tiền đã nhận. Do Công ty T5 không hoàn trả, bà T đã khởi kiện Công ty T5 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án được Tòa án nhân dân Quận 10 thụ lý theo số thụ lý 99/2016/TLST-DS ngày 15/4/2016. Quá trình giải quyết vụ án, bà T và Công ty T5 thỏa thuận được việc giải quyết toàn bộ vụ án nên ngày 29/6/2016, Tòa án nhân dân Quận 10 đã ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 187/2015/HGT-DS công nhận sự thỏa thuận giữa bà T và Công ty T5. Công ty T5 đã hoàn trả và thanh toán cho bà T số tiền được ghi nhận tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận

của các đương sự nêu trên. Ngày 25/3/2016, bà T gửi cho bà H1 Thông báo đòi nợ, yêu cầu bà H1 trả toàn bộ số tiền 3.885.000.000 đồng. Ngày 28/3/2016, bà H1 gửi cho bà T Giấy phản hồi về việc đòi nợ, theo đó bà H1 không thừa nhận đã nhận số tiền 3.885.000.000 đồng và không đồng ý hoàn trả tiền cho bà T.

Nay, bà T yêu cầu như sau:

  • Tuyên bố Giấy bán đất đề ngày 09/3/2008 là vô hiệu do lô đất R11 không hiện hữu vì dự án của Công ty T5 không được phê duyệt;
  • Buộc bà H1 phải hoàn trả 3.885.000.000 đồng và phải bồi thường thiệt hại là khoản tiền lãi tính trên số tiền 3.885.000.000 đồng theo lãi suất 10%/năm tính từ ngày 26/3/2016, là kế tiếp của ngày Văn phòng T6 lập Vi bằng số 412/VB-TPL ngày 25/3/2016 ghi nhận việc bà Quan Vân A giao Thông báo đòi nợ cho bà Trần Thị Thu H1, đến ngày xét xử sơ thẩm, nhưng tự nguyện chỉ tính tròn 88 tháng, là 4.273.500.000 đồng, tổng cộng là 8.158.500.000 đồng.

Đối với ý kiến của bà Trần Thị Thu H1, ông Trần Ngọc T1, bà Trần Thị T2 cho rằng số tiền 3.885.000.000 đồng đã được phía bà T chuyển cho bà Trần Thị T2 qua tài khoản đứng tên bà T2 và tài khoản đứng tên Công ty Trách nhiệm hữu hạn T7 (tên mới Công ty Trách nhiệm hữu hạn T8) (Gọi tắt là Công ty T7), bà T có ý kiến như sau: Các khoản tiền trên không liên quan đến giao dịch mua bán giữa bà T và bà H1. Bà H1 là người nhận đủ số tiền 3.885.000.000 đồng theo Giấy bán đất đề ngày 09/3/2008. Bà T không đồng ý với ý kiến trình bày của bà Trần Thị T2 về việc bà T2 còn giữ của bà T 210.000.000 đồng cũng như đề nghị của T2 hoàn trả và chia sẻ rủi ro với bà T tổng cộng là 625.000.000 đồng. Bà T xác định tại thời điểm bà H1 viết Giấy bán đất đề ngày 9/3/2008, bà T không biết và bà H1 cũng không thông báo cho bà T biết bà H1 không phải là người đứng tên lô đất R11.

Bị đơn bà Trần Thị Thu H1 trình bày:

Bà và bà Trần Thị T2 và em trai là ông Trần Ngọc T1 là bạn bè thân thiết từ lâu với bà Nguyễn Thị T. Năm 2008, bà T2 và ông T1 giới thiệu cho bà T mua lô đất R11 thuộc dự án của Công ty T5 do ông Trần Ngọc T1 đứng tên sở hữu. Để bà T không biết bà T2 và ông T1 có hưởng chênh lệch so với giá đã mua, bà T2 và ông T1 có nhờ bà viết Giấy bán đất đề ngày 9/3/2008 có nội dung bà có bán lô đất R11 thuộc dự án của Công ty T5 cho bà Nguyễn Thị T với giá 3.885.000.000 đồng. Do đã đứng tên dùm bà T2 và ông T1 01 lô đất thuộc dự án này nên bà không do dự khi viết giấy bán đất nêu trên. Toàn bộ giao dịch đều do bà T2 và ông T1 làm việc với gia đình bà T. Số tiền bán đất bà cũng không nhận mà do phía bà T chuyển trong ngày 05/3/2008 gồm 1.500.000.000 đồng vào tài khoản số 160 220 101 3582 của bà Trần Thị T2 mở tại Ngân hàng N2 và 1.000.000.000 đồng vào tài khoản số 160 220 101 3852 của Công ty T7. Ông Trần Ngọc T1 có viết Giấy xác nhận đề ngày 09/3/2008 có nội dung xác nhận lại việc đã nhờ bà

đứng tên và viết giấy bán lô đất R11 cho bà T. Bà xác nhận đến năm 2012, ông V con bà T tìm đến gia đình bà đòi tiền, bà đã nói với ông V toàn bộ sự thật. Nay, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc T1 trình bày:

Lô đất R11 thuộc dự án của Công ty T5 tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh là do ông và chị ruột là bà Trần Thị T2 hùn tiền mua của bà Nguyễn Thị Kim T3 với giá 16.500.000 đồng/m², ông là người trực tiếp giao dịch và đứng tên trên hợp đồng góp vốn với Công ty T5. Ông có quan hệ bạn bè ở Hải Phòng với ông V là con trai bà T. Ông V vượt biên sang Hồ N từ năm 1988, đến năm 2003, 2004 thì sang nước A. Ông V thường gọi điện thăm hỏi gia đình vợ con ông và tâm sự muốn về Việt Nam sinh sống tại S nên nhờ ông mua 01 lô đất của Công ty T5. Ông V đã tìm hiểu giá cả từng khu vực ở S và khu vực lân cận Quận G và thường xuyên liên lạc với bà T2, chị gái của ông, sau đó đồng ý mua lô đất R11 với giá 18.500.000 đồng/m². Sau đó, ông V nhờ mẹ là bà T và 01 người anh vợ vào S để làm thủ tục cho bà T đứng tên mua lô đất R11. Số tiền mua đất chuyển vào tài khoản của bà T2, bà T2 rút ra thanh toán tiền cho bà T3, giữ lại 01 phần theo yêu cầu của ông V để sau này thanh toán cho Công ty T5 khi công ty bàn giao đất, còn lại được ông và bà T2 chia đôi. Khi bà T cần giấy biên nhận, ông đã nhờ bà H1 là người có quan hệ gần gũi với gia đình ông viết Giấy bán đất đề ngày 9/3/2008. Sau đó, ông đã dẫn bà T lên Công ty T5 làm thủ tục, đóng lệ phí để hai bên ký hợp đồng mới. Do đã hoàn tất nghĩa vụ nên ông không chịu trách nhiệm về việc Công ty T5 không giao đất cho bà T. Vì vậy, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T và không có yêu cầu gì trong trường hợp Tòa án tuyên bố Giấy bán đất đề ngày 09/3/2008 vô hiệu. Ông cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết giao dịch giữa ông và bà T3.

Ông xác nhận những nội dung sau: Ông đã lập Giấy xác nhận đề ngày 9/3/2008 có nội dung ông nhờ bà Trần Thị Thu H1 viết giấy bán cho bà Nguyễn Thị T lô đất R11 dự án của Công ty T5. Ngày 10/3/2008, ông đã nộp cho Công ty T5 đơn xin hủy hợp đồng có nội dung đề nghị cho bà T được thay ông thực hiện và đóng tiếp số tiền của Hợp đồng góp vốn đầu tư xây dựng nhà ở số 3101B/HĐGV/08 ngày 31/01/2008 mà ông đã ký với Công ty, ông cam kết không tranh chấp và chấp nhận đóng tiền phạt là 2% trên tổng giá trị hợp đồng. Sau đó, cũng trong ngày 10/3/2008, ông đã đóng cho Công ty T5 số tiền phạt là 10.500.000 đồng và được Công ty T5 hoàn trả lại 315.000.000 đồng là tiền góp vốn theo hợp đồng số 3101B/HĐGV/08 ngày 31/01/2008. Ông không thông báo cho bà T biết việc ông là người đứng tên lô đất R11.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 trình bày:

Lô đất R11 thuộc dự án của Công ty T5 (giai đoạn 2) P, Nhà B là do bà và ông Trần Ngọc T1 hùn tiền mua của bà Nguyễn Thị T3 với giá 16.000.000

đồng/m² và thống nhất để ông T1 đứng tên trên giấy tờ. Bà và Nguyễn Thị T là hàng xóm ở thành phố Hải Phòng. Qua trò chuyện, được biết bà T có nhu cầu mua đất nên bà đã giới thiệu cho bà T lô đất R11. Bà và ông T1 đã dẫn bà T đi xem và nói rõ về tình trạng lô đất. Sau khi bà T đồng ý mua lô đất với giá 18.000.000 đồng/m², vì ngại bà T biết việc mua bán để kiếm tiền chênh lệch nên ông T1 đã nhờ bà H1 đứng tên bán lô đất R11 cho bà T. Tiền mua lô đất R11 bà T đã chuyển vào tài khoản của bà mở tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh V1. Theo thỏa thuận với Công ty T5 thì bên mua đất được giữ lại 10% giá trị của hợp đồng mua bán là 210.000.000 đồng, bên mua sẽ thanh toán cho Công ty T5 khoản tiền này khi Công ty T5 giao đất. Số tiền bà T chuyển vào tài khoản, bà đã rút ra thanh toán tiền mua đất cho bà Nguyễn Thị T3 và đưa lại cho bà T 210.000.000 đồng nhưng bà T nhờ bà giữ hộ vì sợ sẽ sử dụng hết số tiền này. Số tiền chênh lệch từ việc mua bán lô đất R11 bà và ông T1 chia đôi. Việc mua bán đã hoàn tất, ông T1 đã đóng cho Công ty T5 10.000.000 đồng để làm thủ tục chuyển nhượng sang tên cho bà T, bà T đã ký hợp đồng mua bán với Công ty T5. Bà T biết rõ lô đất R11 thuộc dự án của Công ty T5 nhưng vẫn đồng ý mua nên việc bà T yêu cầu đòi lại tiền mua đất là không có cơ sở nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T. Bà tự nguyện trả lại cho bà T 225.000.000 đồng và hỗ trợ, chia sẻ rủi ro với bà T số tiền là 400.000.000 đồng, tổng cộng là 625.000.000 đồng. Bà yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm 326/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

  1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị T:

    Tuyên bố giao dịch dân sự giữa bà Nguyễn Thị T và bà Trần Thị Thu H1 theo Giấy bán đất do bà Trần Thị Thu H1 lập ngày 09/3/2008 là vô hiệu.

    Buộc bà Trần Thị Thu H1 phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền đã nhận là 3.885.000.000 đồng và phải bồi thường cho bà T số tiền là 2.703.800.342 đồng, tổng cộng là 6.588.800.342 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Không chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị T về việc yêu cầu Bị đơn Trần Thị Thu H1 phải trả số tiền là 1.569.699.658 đồng.
  3. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 61/2016/QĐ-KCTT ngày 17/8/2016 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 06/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS, kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 326/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng: Sửa bản án dân sự sơ thẩm, tuyên không chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T yêu cầu bà Trần Thị Thu H1 trả tiền lãi là 4.273.5000.000 đồng.

- Ngày 28/8/2023, bị đơn bà Trần Thị Thu H1 có đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ngày 07/9/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo đề ngày 30/8/2023 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu cầu về phần lãi suất từ ngày 26/3/2016 đến 23/8/2023 là 88 tháng 28 ngày (tính 88 tháng) số tiền là 3.885.000.000 x 150% 12 tháng x 88 tháng = 4.273.500.000 đồng.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về lãi suất từ ngày 26/3/2016 đến 23/8/2023 là 88 tháng 28 ngày (tính 88 tháng) số tiền là 3.885.000.000 x 150% 12 tháng x 88 tháng = 4.273.500.000 đồng. Tổng số tiền bà H1 phải trả cho bà T số tiền đã nhận là 3.885.000.000 đồng và bồi thường theo lãi suất là 4.273.500.000 đồng.

Bị đơn bà Trần Thị Thu H1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Trọng N trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà H1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và Hủy áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 61/2016/QĐ-KCTT ngày 17/8/2016 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ. Trường hợp không thể sửa án đề nghị hủy án để tòa sơ thẩm xét xử lại.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật. Đơn kháng cáo của đương sự nằm trong hạn luật định nên hợp lệ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; Chấp nhận kháng cáo một phần của bà Trần Thị Thu H1; Không chấp nhận kháng cáo của

nguyên đơn bà Nguyễn Thị T; Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 326/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

  • - Ngày 06/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS, kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 326/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Ngày 28/8/2023, bị đơn bà Trần Thị Thu H1 có đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Ngày 07/9/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo đề ngày 30/8/2023 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Xét: Kháng nghị và kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa. Xét bà T2 có yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 61/2016/QĐ-KCTT ngày 17/8/2016 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Phong tỏa phần quyền sở hữu của bà Trần Thị Thu H1 có trong các tài sản sau: “Nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ B (phòng A) N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc 5428/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17 tháng 12 năm 2007 cho ông Nguyễn Đức L và Trần Thị Thu H1); Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 609, tờ bản đồ số 09 (phường B) tại phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BS321885, số vào sổ GCN; CH00957 do Ủy ban nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 27 tháng 3 năm 2014 cho ông Lại Xuân N1 và bà Trần Thị Kim T4, cấp nhật cho ông Nguyễn Đức L và bà Trần Thị Thu H1 vào ngày 23/10/2015”. Do đó, tài sản trên là tài sản chung của bà H1 ông L hồ sơ vụ án thể hiện có văn bản trình bày của ông Nguyễn Đức L (ông L là chồng của bà H1) xin vắng mặt trong các phiên hòa giải xét xử tại phiên tòa, tuy nhiên, tại bản án cấp sơ thẩm không đưa ông L vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có thiếu sót.

Đối với việc bà T ký đã ký với Công ty T5 hợp đồng góp vốn đầu tư để nhận

nền nhà xây dựng nhà ở số 1003A/HĐGV/08 đối với phần đất lô R11 dự án T. Tại cùng một thời điểm đã diễn ra 2 giao dịch: Giao dịch giữa bà T với bà H1 và giao dịch giữa Công ty T5 với bà T nhưng đối tượng giao dịch này là đất lô R11 dự án T. Do đó, cần phải đưa Công ty Cổ phần T5 (nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T5) vào với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

2. Về nội dung:

- Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn Trần Thị Thu H1, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 09/3/2008, bà H1 đã viết cho T “Giấy bán đất” có nội dung bà H1 xác nhận đã bán cho bà T lô đất nêu trên, diện tích 210m² x 18.500.000 đồng = 3.885.000.000 đồng và xác nhận bà T đã trả đủ tiền cho bên bán.

Theo giấy bán đất trên thể hiện thể hiện bà Trần Thị Thu H1 là bên bán, bà Nguyễn Thị T là bên mua, đối tượng giao dịch là lô đất R11 khu dự án T của Bộ Q tại xã P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cho rằng do quen biết nhau nên bà T đã tin tưởng giao tiền mua đất cho bà H1 để chuyển nhượng cho bà T lô đất R11 khu dự án T của Bộ Q tại xã P, huyện N, do Công ty cổ phần T5 là chủ đầu tư. Nay dự án trên không tồn tại, nên bà T yêu cầu bà H1 hoàn trả lại cho bà T toàn bộ số tiền mà bà H1 đã nhận từ bà T và bồi thường thiệt hại cho bà T.

Phía bà H1 không thừa nhận như lời trình bày của bà T, bà H1 xác nhận giấy bán đất ghi ngày 09/3/2008 là do bà viết nhưng chỉ viết ký thay cho ông Trần Ngọc T1 và bà Trần Thị T2. Bà H1 làm việc này là do ông T1 yêu cầu vì giữa bà T với ông T1, bà T2 có mối quan hệ thân thiết nên ông T1 không muốn cho bà T biết rằng lô đất trên là của ông T1 bán cho bà T kiếm lời. Ông T1 đã ký giấy xác nhận việc này cho bà H1 ngày 09/3/2008 với nội dung “Tôi là Trần Ngọc T1 có nhờ cô Trần Thị Thu H1 đứng tên và viết giấy bán đất lô R11 dự án T... cô H1 chỉ đứng ra viết giấy hộ tôi...cô H1 không có quyền lợi và trách nhiệm gì trong việc mua bán này”

Trong quá trình mua bán và làm thủ tục bà T làm việc trực tiếp với ông T1 chứ không làm việc với bà H1. Toàn bộ số tiền bán đất R11 đều do gia đình bà T chuyển qua ngân hàng cho bà T2, bà H1 không nhận số tiền 3.885.000.000 đồng của bà T. Do đó, bà H1 không đồng ý trả số tiền 3.885.000.000 đồng cho bà T.

Bà T2 và ông T1 nhất trí với lời trình bày của bà H1 do bà T mua bán với ông T1 chứ không phải bà H1. Bà T đã ký hợp đồng với Công ty T5. Phía bà T đã chuyển vào tài khoản của bà T2 đã nhận đủ số tiền, không liên quan đến bà H1.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông T1 cũng đã xác nhận, bà T2 có nhận chuyển khoản từ bà T số tiền 4.000.000.000 đồng, đây là khoản tiền chuyển nhượng lô đất R11 của Công ty T5 (trong đó 3.885.000.000 đồng là tiền chuyển nhượng, số tiền

còn lại là chi phí nộp cho công ty T5). Đồng thời, bà Trần Thị T2 có Đơn giải trình gửi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày 11/06/2024, bà T2 xác nhận: Ngày 06/3/2008 bà T có nhờ bà L1 (CMND [...]) chia làm 3 lần gửi vào tài khoản Công ty T7. Theo nội dung của sổ phụ của Ngân hàng tại Ngân hàng A2 – Chi nhánh V1 ngày 06/3/2008 chuyển tiền 1.500.0000.000 đồng; ngày 06/3/2008 chuyển tiền 1.500.000.000 đồng; ngày 06/3/2008 chuyển tiền 1.000.000.000 đồng, ngày 07/3/2008 người nhận bà Trần Thị T2.

Tổng bà lần gửi tiền là 4.000.000.000 đồng là tiền chuyển nhượng lô đất R11.

Phía bà L1 xác nhận là chuyển 2.500.000.000 đồng cho bà T2, ông V con của bà T nhờ bà L1 chuyển dùm, bà T2 xác nhận không phải 2.500.000.000 đồng mà là 4.000.000.000 đồng. Lời khai giữa hai bên có mâu thuẫn về số tiền đã chuyển cho bà T2 nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ.

- Xét cấp sơ thẩm chưa làm rõ được việc giao nhận tiền giữa nguyên đơn bà T và người liên quan ông T1 và bà T2 liên quan đến việc chuyển nhượng lô đất R11 của Công ty T5, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T buộc bị đơn bà H1 trả tiền và bồi thường cho bà T là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự hủy bán sơ thẩm do có tình tiết mới.

- Xét, kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS ngày 06/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 326/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng: Sửa bản án sơ thẩm, tuyên không chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T yêu cầu bà Trần Thị Thu H1 trả tiền lãi là 4.273.5000.000 đồng. Do hủy án sơ thẩm như nhận định trên nên không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận. Đối với đề nghị chấp nhận kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS ngày 06/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Do Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy án sơ thẩm và Tòa án chấp nhận đề nghị trên nên không có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh về việc sửa bản án sơ thẩm.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn bà T và bị đơn bà H1 không phải chịu án phí phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giả quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 3 Điều 148; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 273; khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Thu H1.
  2. Không chấp nhận Kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 326/2023/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn bà Trần Thị Thu H1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giả quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

    H2 lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0044304 ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

    H2 lại cho bà Trần Thị Thu H1 số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0044070 ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP . HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP . HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP . HCM;
  • - Tòa án nhân dân Quận 1;
  • - Cục Thi hành dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu (T18).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 611/2024/DS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu

  • Số bản án: 611/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger