|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 611/2024/DS-PT Ngày: 12 - 8 - 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Ông Hoàng Minh Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2022/TLPT-DS ngày 04 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2471/2024/QĐPT-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị G, sinh năm 1954; Địa chỉ: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Trần Thị L; thường trú: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt)
- Bà Võ Thị Bích N; thường trú: xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (có mặt)
- Ông Trương Minh T; địa chỉ: Số D, T, phường A, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
- Bị đơn:
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1973 (có mặt)
- Bà Trần Thị Ngọc X, sinh năm 1979 (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần B, sinh năm 1954; Địa chỉ: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Nguyễn Xuân Anh Đ, sinh năm 2003; Địa chỉ: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Nguyễn Trần Khánh A, sinh năm 2005; Địa chỉ: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Nguyễn Quốc H1, sinh năm 2007; Địa chỉ: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Ủy ban nhân dân huyện T; Địa chỉ: Đường A tháng D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận
- Ông Bùi Đắc Đ1 - Phó trưởng phòng; địa chỉ: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Bình Thuận
- Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N1; thường trú: xóm G, thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận
- Người kháng cáo: Bà Võ Thị G, ông Trần Ba .
- Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Cùng địa chỉ: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn L1 – Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt)
Người đại diện ủy quyền cho Nguyễn Xuân Anh Đ, Nguyễn Trần Khánh A: ông Nguyễn Minh H và bà Trần Thị Ngọc X (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền cho Ủy ban nhân dân huyện T:
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông bà Võ thị G1 trình bày:
Ngày 05/10/2003 vợ chồng bà Võ Thị G nhận chuyển nhượng 8.000 m² đất nông nghiệp (chuyển nhượng bằng giấy tay), địa điểm tại thôn V, xã V, huyện T của bà Nguyễn Thị N1 trú tại xóm G, thôn V, xã V. Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng bà Giàu c khai hoang thêm một số diện tích hơn 2000 m² để trồng cây lâu năm giáp với diện tích đất này từ năm 2003 và sử dụng ổn định, hiện nay đất có ranh rào ổn định. Năm 2011 ông Nguyễn Minh H là con rễ bà G nói với bà ông có quen biết với cán bộ địa chính xã để ông liên lạc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) giúp bà, vợ chồng bà G đồng
ý. Năm 2012 ông Nguyễn Minh H cùng cán bộ địa chính xã V đã tự ý xác định giả nguồn gốc đất để cấp cho ông H 02 GCNQSDĐ với tổng diện tích là 5238 m² gồm (GCNQSDĐ số BG 909975 với diện tích 4.838m² đất nông nghiệp và 01 GCNQSDĐ số BG 909974 với diện tích 400 m² đất ở nông thôn). Bà Võ Thị G yêu cầu ông Nguyễn Minh H và bà Trần Thị Ngọc X giao trả lại cho bà 5238 m² đất đồng thời yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho vợ chồng ông H.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Minh H và bà Trần Thị Ngọc X trình bày:
Vào năm 2003 vợ chồng ông Nguyễn Minh H cùng với cha, mẹ vợ ông là bà Võ Thị G, ông Trần Ba c1 mua chung diện tích 8.000 m² đất nông nghiệp, địa điểm tại khu V, thôn V, xã V, huyện T của bà Nguyễn Thị N1 trú tại xóm G, thôn V, xã V. Việc mua bán đất có ông Nguyễn Văn Đ2 chứng kiến, hai bên thống nhất để cho ba, mẹ vợ ông là bà G và ông B đứng tên trong giấy mua đất. Sau khi nhận chuyển nhượng có khai hoang thêm một số diện tích hơn 200 m². Sau đó vài năm khi có dự án xây dựng nhà máy N2 thì bà G và ông B đến gặp vợ chồng ông yêu cầu chia đôi diện tích đất này để xây dựng và kinh doanh nhà trọ, vợ chồng ông đồng ý. Hai bên tiến hành phân chia có sự chứng kiến của bà Trần Thị L là chị vợ của ông, kết quả vợ chồng ông nhận theo hướng đi về thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; cha, mẹ vợ ông nhận phần đất hướng đi vào thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Sau đó hai bên tiến hành xây dựng công trình tường rào, nhà trọ trên phần đất của mình. Trong quá trình xây dựng và sử dụng không có tranh chấp gì giữa hai bên. Đến năm 2012 vợ chồng ông làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp 02 GCNQSDĐ với tổng diện tích là 5238 m² gồm (01GCNQSDĐ số BG 909975 với diện tích 4.838m² đất nông nghiệp và 01 GCNQSDĐ số BG 909974 với diện tích 400 m² đất ở nông thôn). Không rõ lý do gì Bà Võ Thị G và ông Trần B yêu cầu vợ chồng giao trả lại cho bà 5238 m² đồng thời yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận được Ủy ban nhân dân huyện T cấp vợ chồng ông không đồng ý.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần B trình bày:
Ông thống nhất nội dung trình bày của nguyên đơn bà Võ Thị G, không bổ sung gì thêm và thống nhất yêu cầu khởi kiện như bà G yêu cầu.
* Ủy ban nhân dân huyện T có đại diện theo ủy quyền ông Bùi Đắc Đ1- Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường trình bày: Giữ nguyên nội dung công văn số 2172 ngày 28/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc cung cấp thông tin về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và tính pháp lý việc cấp giấy CNQSDĐ của thửa đất các bên tranh chấp. Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ của vợ chồng bà Nguyễn Thị G2.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, quyết định:
Áp dụng:
- Khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, khoản 1 Điều 147, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Điều 202 Luật đất đai,
- Điểm đ Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị G đối với vợ chồng ông Nguyễn Minh H, về việc tranh chấp quyền sử dụng 5238 m² đất đã được cấp GCNQSDĐ số BG 909975 và GCNQSDĐ số BG 909974 cho vợ chồng ông H.
Không chấp nhận yêu cầu đề nghị hủy quyết định hành chính tại GCNQSDĐ số BG 909975 và 01 GCNQSDĐ số BG 909974 của Ủy ban nhân dân huyện T cấp QSDĐ cho vợ chồng ông Nguyễn Minh H.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 08/12/2022, nguyên đơn bà Võ Thị G kháng cáo đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Ngày 28/11/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 05/12/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận có kháng nghị đề nghị sửa án sơ thẩm.
*Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm như sau:
Không đồng tình với yêu cầu kháng cáo của phía nguyên đơn và nội dung kháng nghị.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:
Trong tranh chấp này, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ và đúng pháp luật. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát rút toàn bộ Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, đồng thời đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao rút toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, vì vậy Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm về nội dung này.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị G; kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần B có cùng nội dung về việc đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị G:
[2.1] Nguyên đơn bà Võ Thị G tranh chấp với bị đơn là ông Nguyễn Minh H và bà Trần Thị Ngọc X quyền sử dụng diện tích 5.238m² đất, gồm 400m² đất ở, thuộc thửa 36A, tờ bản đồ số 02, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00318 ngày 09/11/2012 (số phát hành BG 909974); và 4.838m², thuộc thửa 36B, tờ bản đồ số 02, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00318 ngày 09/11/2012 (số phát hành BG 909975) cho H, bà X, đều tọa lạc tại thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Bà Võ Thị G yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên. Đồng thời, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho bị đơn đối với toàn bộ diện tích đất tranh chấp.
[2.2] Về nguồn gốc đất:
- Theo trình bày của bà G và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện, đất tranh chấp có nguồn gốc do vợ chồng bà G nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị N1, với diện tích 8.000m², theo “Giấy sang nhượng” ngày 05/10/2003, việc chuyển nhượng có lập văn bản nhưng không công chứng, chứng thực do tại thời điểm chuyển nhượng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bên chuyển nhượng là bà N1 cũng xác nhận, bà N1 chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà G, không biết việc bà G và vợ chồng ông H (là con rể và con ruột của bà G) cùng góp tiền mua đất chung hay không.
- Ông H lại cho rằng, đất tranh chấp do vợ chồng ông và vợ chồng bà G cùng góp vốn mua chung, sau đó chia đôi. Tuy nhiên, vợ chồng bà G không thừa nhận và ông H không chứng minh được việc góp tiền mua đất. Lời khai của người làm chứng cho bị đơn ông Nguyễn Văn Đ2 (là người viết giấy sang nhượng) chỉ nghe vợ chồng ông H nói góp tiền mua đất chung nhưng không chứng kiến việc có góp tiền mua đất chung hay không.
[2.3] Về quá trình sử dụng đất:
- Bà G trình bày, sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng bà sử dụng ổn định đến năm 2012 thì cho vợ chồng ông H mượn sử dụng tạm để xây dựng phòng trọ. Tuy nhiên, việc cho mượn quyền sử dụng đất chỉ thỏa thuận bằng lời nói nên bà G không chứng minh được và vợ chồng ông H cũng không thừa nhận.
- Hiện nay phần đất tranh chấp do vợ chồng ông H đang sử dụng trên thực tế, trong quá trình quản lý, sử dụng đất, vợ chồng ông H có xây dựng hai căn nhà ở và 04 căn phòng trọ có giá trị lớn hơn giá trị quyền sử dụng đất. Việc xây
dựng nhà ở và vật kiến trúc trên đất của vợ chồng ông, bà G đều biết rõ và không có ý kiến.
[2.4] Về quá trình kê khai, đăng ký:
- Theo lời trình bày của bà G, năm 2011 bà biết việc ông H kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do ông H nói cho bà biết nhưng bà tin tưởng ông H do ông H là con rể nói đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giúp vợ chồng bà nhưng lời trình bày này không có chứng cứ để chứng minh.
- Năm 2011, ông H đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có kê khai nguồn gốc là do ông H nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị N1 năm 2003. Tuy nhiên, như đã nêu trên, nguồn gốc quyền sử dụng đất là do bà N1 chuyển nhượng cho vợ chồng bà G, ông H không chứng minh được nguồn gốc sử dụng đất nhưng vẫn được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] Trong quá trình giải quyết tranh chấp này, Tòa án cấp sơ thẩm có thu thập và đã có nhận định: Biên bản làm việc ngày 22/10/2013 (BL 247) và Biên bản hòa giải ngày 22/11/2013 (BL 244) của Ủy ban nhân dân xã V về việc hòa giải tranh chấp đất giữa ông Trần B (chồng bà G) với ông H, thể hiện ông B có trình bày đất tranh chấp do hùn mua chung với vợ chồng ông H và trên cơ sở nội dung hòa giải, ngày 16/01/2014 Cán bộ địa chính xã V có đến thực địa để tiến hành đo đạc, cắm mốc ranh giới quyền sử dụng đất của hai bên, tại thời điểm này hai bên chỉ tranh chấp với nhau về ranh giới quyền sử dụng đất đã được phân chia mà không tranh chấp toàn bộ quyền sử dụng đất. (BL 246). Như vậy, ở trường hợp này cần phải tiến hành đối chất làm rõ giữa các đương sự gồm: ông B, bà G và vợ chồng ông H để làm cơ sở xác định về nội dung tại Biên bản hòa giải, đồng thời xác minh làm rõ có hay không việc có việc đo đạc, cắm ranh mốc về ranh giới quyền sử dụng đất giữa các bên mới đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
[4] Ngoài ra, cần làm rõ thêm một số tình tiết khác quan trọng để đánh giá chứng cứ vững chắc hơn, cụ thể:
[4.1] Ông H trình bày: Tại biên bản lấy lời khai của đương sự vào ngày 27/8/2019 ông trình bày: “Đến năm 2010 bà Trần Thị L (chị vợ) và bà Võ Thị Giàu c2 đến nhà tôi bàn về việc phân chia diện tích đất đã mua bằng cách bốc thăm ………”; sau khi đã phân chia thì hai bên đã tiến hành xây dựng tường rào ngăn quyền sử dụng đất của hai bên. Đây là chứng cứ rất quan trọng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ liên quan đến nội dung này từ phía bà L để làm rõ trên thực tế có việc phân chia quyền sử dụng đất hay không (nếu có thì lời khai của ông H về việc góp tiền mua đất chung sau đó chia đôi là có cơ sở).
[4.2] Bà G khai nhận chuyển nhượng diện tích 8.000m² và khai hoang thêm diện tích khoảng 2000m², tổng diện tích là 01 ha. Ông H đang sử dụng diện tích 5.238m² đất và kê khai cấp giấy chứng nhận phần đất này. Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ hiện vợ chồng bà G đang sử dụng diện tích trên thực tế bao nhiêu, có tương đương với phần đất ông H đang sử dụng hay không để
làm cơ sở để đánh giá có việc chia đôi quyền sử dụng đất hay không? Trong khi hiện nay ông H được cấp giấy chứng nhận với diện tích đất là 5.238 m² – tức là nhiều hơn diện tích mà ông cho rằng đã nhận từ việc mua chung là 4000 m².
[4.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn trình bày trước đây trong quá trình quản lý và sử dụng đất, họ đã bị Nhà nước thu hồi một phần trong tổng diện tích đất tranh chấp và họ là đối tượng được thụ hưởng việc bồi thường khi thu hồi một phần đất. Đây cũng là vấn đề cần phải thu thập để làm cơ sở cho việc đánh giá trong quá trình giải quyết tranh chấp.
[5] Ngoài ra, chứng cứ tại hồ sơ thể hiện: Tại văn bản số 2017/UBND-NC ngày 05/8/2022 của Chủ tịch UBND huyện T về việc xác minh tính pháp lý liên quan đến diện tích đất tranh chấp giữa các đương sự thể hiện như sau:
-Phần diện đất phát sinh 2.691,8 m² do bà G chỉ dẫn đo vẽ có một phần diện tích chồng lấn với Trung tâm N3 và phần còn lại là đất trống do UBND xã quản lý.
Phần diện tích đất phát sinh 300 m² do ông H và bà G chỉ dẫn đo vẽ là đất trống do UBND xã quản lý.
Như vậy, để có cơ sở giải quyết đúng đắn tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân tổ chức khác thì cần làm rõ những vấn đề trên.
[6] Tóm lại: Do trong quá trình giải quyết tranh chấp này, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đấy đủ, điều này đã ảnh hưởng đến việc thiếu cơ sở vũng chắc cho việc phán quyết mà Tòa án cấp sơ thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[8] Do hủy án sơ thẩm, vì vậy đương sự có kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Đình chỉ xét xử đối với Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và người liên quan.
Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
Các chi phí tố tụng sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Hoàng Minh Thịnh | Chung Văn Kết | Phạm Công Mười |
8
Bản án số 611/2024/DS-PT ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 611/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Giàu
