|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 610/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06 tháng 6 năm 2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến Ngọc;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên;
- Bà Nguyễn Thị Xuân Hồng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Việt Anh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLST–HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 525/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 685/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bích N, sinh năm 1986;
Nơi thường trú: 2 T, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh;
(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông La Quốc U, sinh năm 1975;
Nơi thường trú: 6 P, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi làm việc: 2 T, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn ly hôn, biên bản thì nguyên đơn – bà Phạm Thị Bích N trình bày: Bà và ông La Quốc U tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 07/2008. Quá trình chung sống, vợ chồng bà nảy sinh mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân do hai bên có cách suy nghĩ khác nhau, không thống nhất được trong mọi việc, ông U không chia sẻ với bà nên cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, không hạnh phúc. Nay bà thực sự rất mệt mỏi, tình cảm dành cho nhau không còn, khả năng hàn gắn là không thể. Bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông La Quốc U.
Về con chung: Bà và ông U có 01 (một) người con là La Gia T, sinh ngày 17/02/2009. Bà yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục người con chung đến khi thành niên. Bà không yêu cầu ông La Quốc U cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản thì bị đơn – ông La Quốc U trình bày:
Ông và bà Phạm Thị Bích N là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn như bà N trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng ông có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do không tin tưởng nhau về mọi vấn đề; quan điểm, lối sống không phù hợp nhưng chưa đến mức phải ly hôn, ông còn thương vợ con nên với yêu cầu ly hôn của bà N thì ông không đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng ông có 01 (một) người con là La Gia T, sinh ngày 17/02/2009. Trường hợp bà N nhất quyết ly hôn thì ông đồng ý giao người con tên T cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên. Ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng hòa giải không thành nên vụ án được đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 16/5/2025 bị đơn – ông La Quốc U vắng mặt lần thứ nhất không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật “V/v tranh chấp ly hôn”. Bị đơn làm việc tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 108, quyển số 01 ngày 09/7/2008 của Ủy ban nhân dân phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân giữa các đương sự là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, các đương sự nảy sinh mâu thuẫn kéo dài và mâu thuẫn giữa các đương sự là có thật, chủ yếu do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng vẫn không thể hòa hợp được; tháng 10/2024 bà N đã từng nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy ban nhân dân phường T, Quận A có văn bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa các đương sự “Ủy ban nhân dân phường T chưa tiếp nhận đơn yêu cầu hòa giải mâu thuẫn hôn nhân đối với ông La Quốc U và bà Phạm Thị Bích N”.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tòa án đã tạo điều kiện để hai bên hòa giải, giải quyết mâu thuẫn gia đình nhưng không thành. Như vậy hôn nhân giữa các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” nên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[2.2] Về con chung: Các đương sự có 01 (một) người con La Gia T, sinh ngày 17/02/2009.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Người con La Gia T có nguyện vọng mong muốn được ở cùng nguyên đơn và bị đơn đồng ý giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng trong trường hợp Tòa án cho các đương sự ly hôn. Vì vậy, theo nguyện vọng của cháu T và để đảm bảo sự ổn định về tinh thần, sức khỏe của của cháu; Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ chung về tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí:
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 58, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Bích N được ly hôn với ông La Quốc U.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật Giấy chứng nhận kết hôn số 108, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/7/2008 không còn giá trị.
1.2 Về con chung: Có 01 (một) người con La Gia T, sinh ngày 17/02/2009.
Giao người con tên T cho bà Phạm Thị Bích N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông La Quốc U do bà Phạm Thị Bích N chưa có yêu cầu.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng; không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
1.3 Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Bích N và ông La Quốc U không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4 Nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Phạm Thị Bích N và ông La Quốc U không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
Bà Phạm Thị Bích N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0049863 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Thị Bích N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Yến Ngọc |
Bản án số 610/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 610/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dân sự
