Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 610/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23 - 10 - 2025

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Nga
  2. Bà Phan Thị Dòn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2025, tại Phòng xử án Hôn nhân gia đình và người chưa thành niên thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 108/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 517/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 475/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1986.

Số Căn cước công dân: [...]; ngày cấp: 23/01/2025

Nơi cấp: Bộ C

Nơi cư trú: 159/15/4 Khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trần Tấn Đ1, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: C5/158 ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Đ1 vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên hòa giải nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày: Bà H và ông Trần Tấn Đ1 bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2007, do tự tìm hiểu và tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 18/11/2008. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, ông Đ1 nhiều lần có hành vi bạo hành đối với bà H, cả hai ly thân nhau từ năm 2024 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Đ1.

Về con chung: Bà H khai bà H và ông Đ1 có 02 (hai) con chung tên là Trần Thị Kim Á (giới tính nữ), sinh ngày 20/10/2008 và Trần Kim Ánh N (giới tính nữ), sinh ngày 02/7/2010 hiện nay đang sống chung với bà H. Sau ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Đ1 cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung: Bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H xác nhận không có.

Do bận công việc nên bà H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, ngoài ra bà H không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai ngày 08/8/2025, bị đơn ông Trần Tấn Đ1 trình bày:

Ông và bà H bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2007, do tự tìm hiểu và tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 18/11/2008. Thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, ông xác nhận cả hai đã ly thân nhau. Nay phía bà H nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông Đ1 khai có 02 (hai) con chung tên là Trần Thị Kim Á (giới tính nữ), sinh ngày 20/10/2008 và Trần Kim Ánh N (giới tính nữ), sinh ngày 02/7/2010 hiện nay đang sống chung với bà H. Sau ly hôn, ông đồng ý giao hai con chung cho bà H được tiếp tục trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và ông Đ1 không cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung: Ông Đ1 khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông Đ1 xác nhận không có.

Tuy nhiên, ông Trần Tấn Đ1 vắng mặt không có lý do trong các phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; các phiên xét xử vụ án trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim H nộp đơn xin ly hôn với ông Trần Tấn Đ1 tại Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Tấn Đ1 hiện đang cư trú tại xã B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông Đ1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án nên ông Đ1 đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Ông Đ1 phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu xin ly hôn, lời trình bày của bà H và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.

[3] Về quan hệ vợ chồng: Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 184, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/11/2008 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Trần Tấn Đ1 là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đã phát sinh mâu thuẫn từ lâu, nguyên nhân không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông Đ1 không quan tâm chăm sóc vợ con, cả hai đã sống ly thân nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được bà H yêu cầu được ly hôn với ông Đ1 để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng và ông Đ1 cũng đồng ý.

Mặt khác, trong quá trình hòa giải tại Tòa ông Đ1 cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo giấy triệu tập để Tòa án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏ giữa hai người đã không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông Đ1.

[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim H xác nhận bà và ông Đ1 chung sống với nhau có 02 (hai) con chung tên là Trần Thị Kim Á (giới tính nữ), sinh ngày 20/10/2008 và Trần Kim Ánh N (giới tính nữ), sinh ngày 02/7/2010, hiện nay con chung đang sống với bà H. Bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Đ1 cấp dưỡng cho con chung.

Xét bà H và ông Đ1 không có tranh chấp về quyền nuôi con, bà H xác nhận hiện con chung đang sống chung với bà, bà H là người chăm sóc tốt cho trẻ Á và trẻ N. Đồng thời ý kiến của trẻ Á và trẻ N nếu ba mẹ không còn chung sống với nhau nữa thì trẻ Á và trẻ N muốn sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao trẻ Trần Thị Kim Á (giới tính nữ), sinh ngày 20/10/2008 và Trần Kim Ánh N (giới tính nữ), sinh ngày 02/7/2010 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho trẻ Á trẻ Như, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Đ1 cho đến khi bà H có yêu cầu.

Do bà H không yêu cầu ông Đ1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này các đương sự có tranh chấp về mức cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H và ông Đ1 đều xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Đ1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim H đối với ông Trần Tấn Đ1.

Bà Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với ông Trần Tấn Đ1. Giấy chứng nhận kết hôn số 184, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/11/2008 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao con chung là trẻ Trần Thị Kim Á (giới tính nữ), sinh ngày 20/10/2008 và Trần Kim Ánh N (giới tính nữ), sinh ngày 02/7/2010 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung đối với ông Đ1 cho đến khi bà H có yêu cầu.

Ông Trần Tấn Đ1 có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà H đã nộp theo biên lai thu số 0005210 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H, bà H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM (01);
  • - VKSND TP. HCM (01);
  • - VKSND H.BC (01);
  • - Chi cục THADS.HBC (01);
  • - Các đương sự (04);
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn (01);
  • - Lưu hồ sơ (03).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 610/2025/HNGĐ-ST ngày 23/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 610/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger