Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày 30-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Đắc Minh.
  2. Ông Trương Hữu Bình.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Văn T, sinh ngày 01/01/1983 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: tổ H, ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Võ Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 31/HSST ngày 08/10/2001 Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/01/2002, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; Bản án số 283/HSST ngày 10/12/2002 Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh (nay là thành phố T) xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản và Hiếp dâm”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2009, chưa chấp hành án phí và bồi thường; Bản án số 80/2009/HSST ngày 26/11/2009 Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xử 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 16/10/2018, chấp hành xong hình phạt tù. Đã chấp hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Đối với phần trách nhiệm dân sự, T chưa thi hành do người được thi hành án chưa có đơn yêu cầu thi hành án; Bản án số 37/2019/HSST ngày 28/8/2019 Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023, đã chấp hành xong 300.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 23/4/1998, Võ Văn T bị Ủy ban nhân tỉnh Tây Ninh đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng theo Quyết định số 68/QĐ về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn K, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Kim X, sinh năm 1966, cùng nơi cư trú: Số F, đường T, khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn L, sinh năm 1961, nơi cư trú: Số F, đường T, khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin vắng mặt.
  2. Võ Thị Quỳnh N, sinh ngày 14/8/2009. Người đại diện hợp pháp là bà Võ Thị K1 (cô ruột), sinh năm 1990; cùng nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn T là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị tòa án kết án về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cướp tài sản” và tội “Hiếp dâm”. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, T lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể như sau:

Võ Văn T biết vợ chồng ông Nguyễn K và bà Nguyễn Kim X ở Khu phố D, thị trấn D, huyện D làm nghề mua, bán xe mô tô cũ, nên nảy sinh ý định lừa đảo vợ chồng ông K, bà X để chiếm đoạt xe. Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 02/10/2023, T đi đến nhà ông K, bà X hỏi mua xe mô tô cũ. Sau khi được ông K, bà X cho xem xe mô tô cũ hiệu Honda, kiểu dáng Wave Alpha, biển số 61H1-069.29 và báo giá xe bán là 12.000.000 đồng. Lúc này, T lấy trong người ra 01 điện thoại hiệu Iphone 8 Plus màu đen và 01 bóp da màu nâu đỏ để trên ghế, rồi nói với vợ chồng ông K, bà X muốn chạy thử xe. Do thấy T để lại tài sản của mình nên ông K và bà X tin tưởng giao xe mô tô nói trên cho T chạy thử. Khoảng 30 phút sau, không thấy T chạy xe quay lại trả xe, biết mình bị T lừa nên bà X đến Cơ quan Công an thị trấn D trình báo sự việc.

Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô biển số 61H1-069.29, T điều khiển xe đi về hướng Tây Ninh, sau đó đi theo đường mòn đến C, bán xe mô tô này cho một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch với giá 6.500.000 đồng, số tiền bán xe này T đã sử dụng đánh bạc trong Casino tại C và tiêu xài cá nhân hết.

2

Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐG ngày 23/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, Số máy: HC12E2971861, số khung: RLHHC1206BY171823; màu sơn: đỏ, đen, bạc; biển số 61H1-069.29 đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt là ngày 02/10/2023, trị giá 11.500.000 đồng (bút lục 135).

Cáo trạng số 63/CT-VKS-DA ngày 12 tháng 8 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Xe mô tô biển số 61H1-069.29 do ông Nguyễn L đứng tên đăng ký xe, xe mô tô này ông L đã bán cho ông Nguyễn K và bà Nguyễn Kim X nhưng chưa làm thủ tục sang tên, không thu hồi được nên đề nghị buộc Võ Văn T bồi thường cho ông K và bà X 11.500.000 đồng trị giá xe.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 ví da màu nâu, trên ví có dòng chữ “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ, gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”, là tài sản cá nhân của T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Đối với điện thoại hiệu Iphone 8 Plus màu đen, xác định điện thoại này là của Võ Thị Quỳnh N. Cháu N cho T mượn điện thoại để sử dụng nên trả lại điện thoại cho cháu N.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

3

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Ngày 02/10/2023, tại nhà ông Nguyễn K và bà Nguyễn Kim X ở khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, Võ Văn T đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt xe mô tô biển số 61H1-069.29 trị giá 11.500.000 đồng của ông Nguyễn K và bà Nguyễn Kim X. Hành vi của bị cáo Võ Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tuy tài sản bị chiếm đoạt trị giá dưới 50.000.000 đồng nhưng bị cáo đã “Tái phạm nguy hiểm”, chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội mới, thuộc trường hợp định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vì tư lợi. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.

[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[8] Về hình phạt:

+ Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt tù về hành vi chiếm đoạt nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

+ Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử, xét thấy hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên không phạt bổ sung.

4

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt là phù hợp nên chấp nhận.

[10] Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024.

3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585; 586 và 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Võ Văn T bồi thường cho ông Nguyễn K và bà Nguyễn Kim X 11.500.000 (mười một triệu năm trăm nghìn) đồng.

4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu nâu, trên ví có dòng chữ “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ, gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”.

Trả lại cho cháu Võ Thị Quỳnh N 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đen, dung lượng 64GB, số IMEI: 354835097270020.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 575.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (01);
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Công an huyện Dầu Tiếng (01);
  • - Nhà tạm giữ CADT (01);
  • - Chi cục THADS huyện Dầu Tiếng (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - Người tham gia tố tụng (01);
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo (01);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Lê Quân Vương

6

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND huyện Dầu Tiếng (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - Công an huyện Dầu Tiếng (01); - Nhà tạm giữ CADT (01); - Chi cục THADS huyện Dầu Tiếng (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - Người tham gia tố tụng (01); - UBND nơi cư trú của bị cáo (01); THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Võ Văn Trơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger