|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-5-2024 V/v Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Chọn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Xứng
Bà Trần Thị Ngọc Trân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngọc Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 51/2023/HNGĐST ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn bà Lê Thị Bé N, sinh ngày 20/4/1998. Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn ông CHANG KUO HUA, sinh ngày 06/3/1972. Địa chỉ: 2/81/4/1 Đ, lộ T, Khóm B, phường G, khu phố T, thành phố T, Đài Loan.
(Bà N có đơn xin vắng mặt, ông CHANG KUA HUA vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 17/4/2023 và bản tự khai ngày 12/6/2023 bà Lê Thị Bé N trình bày: Vào năm 2016, bà và ông CHANG KUA HUA quen biết qua mai mối, sau khi tìm hiểu có nảy sinh tình cảm, có làm đám cưới theo phong tục tập quán của người Việt Nam, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 21/12/2016.
Sau khi kết hôn, vợ chồng bà N chung sống tại Việt Nam được 01 tháng, sau đó ông CHANG KUA HUA về Đài Loan, bà N ở lại Việt Nam 03 tháng để học ngôn ngữ Đài Loan sau đó sang Đài Loan đoàn tụ cùng chồng. Sau khi qua Đài Loan chung sống cùng ông CHANG KUA HUA khoảng 02 năm thì vợ chồng tôi bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 8/2020 bà N đưa con về Việt Nam. Khoảng ba tháng sau thì ông CHANG KUA HUA sang Việt Nam thăm mẹ con bà N và muốn hàn gắn tình cảm, muốn vợ và con quay về Đài Loan chung sống nhưng bà N không đồng ý nên ông CHANG KUA HUA về Đài Loan và không quay lại Việt Nam lần nào nữa. Trong quá trình chung sống do khác biệt về phong tục tập quán, ngôn ngữ giao tiếp, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu không được tốt, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn về tiền bạc dẫn đến cải vã nhau, cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm.
Nay bà nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân giữa bà và ông CHANG KUA HUA không thể duy trì nên bà N yêu cầu ly hôn với ông CHANG KUA HUA.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trương Thành V, sinh ngày 11/8/2017, hiện đang sống cùng bà N tại Việt Nam, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông CHANG KUO HUA cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông CHANG KUA HUA vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Bé N theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị Bé N. Về con chung: Bà N xác định có 01 con chung tên Trương Thành V, sinh ngày 11/8/2017, hiện đang sống cùng bà N tại Việt Nam, xét thấy cháu V đều do bà N chăm sóc nuôi dưỡng nên đề nghị cho bà N được tiếp tục nuôi con chung, bà N không yêu cầu ông CHANG KUO HUA cấp dưỡng nuôi con nênkhông xem xét. Về tài sản chung; nợ chung: Bà N xác định không có nên không xem xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục: Nguyên đơn bà Lê Thị Bé N có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông CHANG KUO HUA vắng mặt trong quá trình tiến hành tố tụng. Do vậy căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2]. Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Bé N và ông CHANG KUO HUA là hôn nhân tự nguyện; ông, bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 21/12/2016. Do vậy Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân của bà Lê Thị Bé N và ông CHANG KUO HUA là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Lê Thị Bé N và ông CHANG KUO HUA do khác biệt về phong tục tập quán, ngôn ngữ giao tiếp, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu không được tốt, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn về tiền bạc dẫn đến cải vã nhau, cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm. Xét thấy hôn nhân giữa bà Lê Thị Bé N và ông CHANG KUO HUA đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Bé N đối với ông CHANG KUO HUA. Về con chung: Bà N xác định có 01 con chung tên Trương Thành V, sinh ngày 11/8/2017, hiện đang sống cùng bà N tại Việt Nam, xét thấy cháu V đều do bà N chăm sóc nuôi dưỡng nên bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con là có cơ sở chấp nhận. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Bé N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Lê Thị Bé N phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà N đã nộp.
[4]. Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Áp dụng khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC; Bà Lê Thị Bé N phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, đã nộp theo biên lai thu số 0016626 ngày 12/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 38, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bé N được ly hôn với ông CHANG KUO HUA.
-
Về con chung: Giao người con tên Trương Thành V, sinh ngày 11/8/2017 cho bà Lê Thị Bé N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Lê Thị Bé N không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Ông CHANG KUO HUA có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Bé N xác định không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Án phí: Bà Lê Thị Bé N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai 0009748 ngày 29/5/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Lê Thị Bé N phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, đã nộp theo biên lai thu số 0016626 ngày 12/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Bé N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Tòa án niêm yết. Riêng ông CHANG KUO HUA có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
|
Nơi nhận :
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn |
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N VÀ CH
