|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 61/2024/HS-ST Ngày 29-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quyết
Bà Phạm Thị Khanh
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh N
sinh ngày 22 tháng 9 năm 1994, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 28-02-2024; tạm giam ngày 05-3-2024; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Nam S, sinh năm 1999 (đã chết). Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện hợp pháp của anh Trần Nam S:
- Ông Trần Quang A, sinh năm 1972 và bà Bùi Thị L, sinh năm 1975 (là bố và mẹ của anh Trần Nam S); địa chỉ: Khu dân cư L, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 1997 (là vợ của anh Trần Nam S); địa chỉ: Khu dân cư L, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Cháu Trần Nguyễn Phương N2, sinh năm 2022 (là con của anh Trần Nam S); địa chỉ: Khu dân cư L, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
Người đại diện theo pháp luật của cháu Trần Nguyễn Phương N2: Chị Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 1997 (là mẹ của cháu Trần Nguyễn Phương N2); địa chỉ: Khu dân cư L, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
Người chứng kiến: Ông Lương Văn L1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 28-02-2024, tổ công tác Công an huyện V, thành phố Hải Phòng phối hợp cùng Công an xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xã G. Khi tổ công tác đi đến Quốc lộ A thuộc địa phận thôn F, xã G thì phát hiện 01 xe ô tô nhãn hiệu Xpander mang Biển kiểm soát số 15K-04227 dừng ở ven đường có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội. Tổ công tác tiến hành kiểm tra xe ô tô thì trên xe có 02 người nam giới. Người ngồi ở vị trí lái xe là Trần Nam S và người nam giới ngồi ở vị trí ghế phụ phía trước (cạnh ghế lái) là Nguyễn Minh N. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện phía dưới ghế ngồi của N có 01 túi nilon màu trắng mép viền cam bên trong có 03 viên nén màu xám và 01 túi nilon màu trắng nhỏ hơn mép viền xanh chứa chất tinh thể màu trắng (N khai là ma túy). Tổ công tác lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ tang vật chứng nêu trên cùng với 01 xe ô tô nhãn hiệu Xpander mang Biển kiểm soát số 15K-042.27; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của Trần Nam S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 01 ví da màu đen vân caro, bên trong có số tiền 8.900.000 đồng của Nguyễn Minh N.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh N khai nhận: Sáng ngày 28-02-2024, N đi xe buýt từ huyện V đến khu vực đường T, Quận L, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Tại đây, N gặp 01 người nam giới khoảng 40 tuổi đang đứng ở đường ray tàu và hỏi mua 03 viên thuốc lắc và 01 gam ma túy loại Ketamine. Người nam giới báo giá số ma tuý trên là 2.000.000 đồng, N đồng ý. Người nam giới đi vào 01 ngách nhỏ gần đó khoảng 05 phút thì quay lại đưa cho N 01 túi nilon màu trắng mép viền cam bên trong có 03 viên thuốc lắc màu xám và 01 túi nilon màu trắng mép viền xanh có chứa ma tuý Ketamine. N nhận số ma tuý trên cho vào túi quần đang mặc rồi đưa cho người nam giới số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó, N bắt xe buýt đi về nhà. Đến tối cùng ngày, N gọi điện cho S là người lái xe taxi để chở N đi tìm nơi sử dụng ma tuý (N không nói cho S về việc này). Trên đường đi N có để túi nilon chứa ma tuý của N xuống dưới gầm ghế phụ nơi N đang ngồi. Khi đến Quốc lộ A thuộc địa phận Thôn F, xã G, N bảo S dừng xe lại ở ven đường. Sau đó, tổ công tác Công an huyện V phối hợp cùng Công an xã G tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng như nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành khám xét xe ô tô nhãn hiệu Xpander mang Biển kiểm soát số 15K-042.27 và khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Minh N và Trần Nam S nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Kết luận giám định số 229/KL-KTHS ngày 04-3-2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
“- Các viên nén màu xám của mẫu 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,25 gam, loại: MDMA.
- Tinh thể màu trắng của mẫu M2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,83 gam, loại: Ketamine”.
Tại Thông báo kết quả giám biệt nguồn hơi số 283/TB-PK02 ngày 01-3-2024 của Phòng Cảnh sát cơ động Công an thành phố H thể hiện:
“Nguồn hơi từ 01 vỏ túi nilon màu trắng có mép viền màu da cam (mẫu cần giám định) đồng nhất với nguồn hơi thu từ 01 chiếc áo dài tay màu trắng thu giữ của Nguyễn Minh N, sinh năm 1994; HKTT: Thôn D, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng”.
Tại Kết luận giám định số 1411/KL-KTHS ngày 15-5-2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận về 02 chiếc điện thoại thu giữ được như sau:
“- Đối tượng giám định ký hiệu A1 (điện thoại tạm giữ của Trần Nam S)
- + Trích xuất thông tin 24063 danh bạ; 13091 cuộc gọi; 197 cuộc trò chuyện Facebook; 168 cuộc trò chuyện Facebook Messenger; 579 cuộc trò chuyện Massages trong khoảng thời gian từ ngày 28/02/2024 trở về trước trên điện thoại nhãn hiệu Oppo có số IMEI1: 868062060751154; IMEI2: 868062060751147.
- + SIM in dãy số 8401220624061903 có số ICCID: 84012206240619037, không tìm thấy dữ liệu liên quan.
- + SIM in dãy số 89840200010845835107 có số ICCID: 89840200010845835107, không tìm thấy dữ liệu liên quan.
- Đối tượng giám định ký hiệu A2 (điện thoại tạm giữ của Nguyễn Minh N):
- + Trích xuất thông tin 5248 danh bạ; 8882 cuộc gọi; 85 tin nhắn tức thì; 57 cuộc trò chuyện Facebook; 37 cuộc trò chuyện Messages trong khoảng thời gian từ ngày 28/02/2024 trở về trước trên điện thoại nhãn hiệu Iphone có số IMEI1: 352192202440888; IMEI2: 352192202033717
- + SIM in dãy số 89840200011160965008 có số ICCID: 89840200011160965008, không tìm thấy dữ liệu liên quan”. Trong danh sách các cuộc gọi, tin nhắn nêu trên đều không có nội dung liên quan đến vụ án.
Tại Cáo trạng số: 63/CT-VKS ngày 12-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Minh N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 27 tháng đến 33 tháng tù; căn cứ Điều 35, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 229MT/PC09, 01 bì giấy còn nguyên niêm phong trên bì giấy có đóng dấu tròn của Phòng K Công an thành phố H, 01 bì thư còn nguyên niêm phong trên bì thư có đóng dấu tròn của Phòng Cảnh sát cơ động Công an thành phố H và chữ ký của những người có liên quan; trả lại cho những người đại diện hợp pháp của anh Trần Nam S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 bì giấy dán kín các mặt, trên bì giấy có dấu tròn của Phòng K Công an thành phố H và chữ ký của những người có liên quan; trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 bì giấy dán kín các mặt, trên bì giấy có dấu tròn của Phòng K Công an thành phố H và chữ ký của những người có liên quan, số tiền 8.900.000 đồng và 01 ví da màu đen vân caro đã cũ, đã qua sử dụng. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
- Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
- Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 28-02-2024, tại Quốc lộ A thuộc địa phận Thôn F, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Minh N đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,25 gam ma túy loại MDMA và 0,83 gam ma túy loại Ketamine mục đích để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt: Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02-02-2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy đã thu giữ của bị cáo tính theo tỉ lệ % so với mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là (1,25 gam ma túy loại MDMA x 100 : 5) + (0,83 gam ma túy loại Ketamine x 100 : 20) = 29,15% (thuộc trường hợp dưới 100%). Như vậy, tổng khối lượng của hai chất ma tuý thu giữ của bị cáo không thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên bị cáo phạm điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; thấy rằng, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thỏa đáng nhằm đảm bảo trừng trị người phạm tội, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có tài sản (có tiền) nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 229MT/PC09 là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 bì giấy còn nguyên niêm phong trên bì giấy có đóng dấu tròn của Phòng K Công an thành phố H, 01 bì thư còn nguyên niêm phong trên bì thư có đóng dấu tròn của Phòng Cảnh sát cơ động Công an thành phố H và chữ ký của những người có liên quan là vật liên quan đến việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu huỷ; đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 bì giấy dán kín các mặt, trên bì giấy có dấu tròn của Phòng K Công an thành phố H và chữ ký của những người có liên quan thu giữ của anh Trần Nam S, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 bì giấy dán kín các mặt, trên bì giấy có dấu tròn của Phòng K Công an thành phố H và chữ ký của những người có liên quan, số tiền 8.900.000 đồng và 01 ví da màu đen vân caro đã cũ, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo là tài sản của bị cáo và của anh Trần Nam S, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo và những người đại diện hợp pháp của anh Trần Nam S.
- Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Xpander Biển kiểm soát 15K-042.27 qua xác minh được đăng ký mang tên bà Bùi Thị L, sinh năm 1975 ở thôn T, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng (là mẹ của Trần Nam S). Theo bà L cho biết, bà L cho Trần Nam S mượn xe ô tô làm phương tiện lái taxi. Bà L không biết, không liên quan đến việc bị cáo cất giấu ma túy trên xe ô tô. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại xe ô tô cùng giấy tờ xe cho bà Bùi Thị L là chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 28-02-2024 tại khu vực đường T, Quận L, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không xác minh được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
- Đối với anh Trần Nam S do không biết, không liên quan đến việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy trên xe ô tô của anh S nên Cơ quan điều tra không xử lý (anh Trần Nam S đã chết vào ngày 02-4-2024 do tai nạn giao thông).
- Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28-02-2024.
Căn cứ vào Điều 35, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt tiền bị cáo Nguyễn Minh N 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 229MT/PC09, 01 bì giấy còn nguyên niêm phong trên bì giấy có đóng dấu tròn của Phòng K Công an thành phố H, 01 bì thư còn nguyên niêm phong trên bì thư có đóng dấu tròn của Phòng Cảnh sát cơ động Công an thành phố H và chữ ký của những người có liên quan; trả lại cho những người đại diện hợp pháp của anh Trần Nam S là ông Trần Quang A, bà Bùi Thị L, chị Nguyễn Thị Trà M và cháu Trần Nguyễn Phương N2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 bì giấy dán kín các mặt, trên bì giấy có dấu tròn của Phòng K Công an thành phố H và chữ ký của những người có liên quan; trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 bì giấy dán kín các mặt, trên bì giấy có dấu tròn của Phòng K Công an thành phố H và chữ ký của những người có liên quan, số tiền 8.900.000 (Tám triệu chín trăm nghìn) đồng và 01 ví da màu đen vân caro đã cũ, đã qua sử dụng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14-8-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo và Uỷ nhiệm chi lập ngày 14-8-2024 giữa Công an huyện V và Kho bạc Nhà nước V.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Hữu Hường |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Ng - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
