Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29/7/2024

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Ái Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Kiều Thu
  2. Ông Nguyễn Văn Đô

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Nhã Uyên, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 600/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 310/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 496/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn D tự nguyện chung sống và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01/2008, ngày 15/7/2008.

Trong quá trình chung sống, ông D và bà T đã phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xảy ra cãi vã, mỗi người mỗi quan điểm sống khác nhau nên không có tiếng nói chung. Vì thương con nên bà cố gắng bỏ qua mà chung sống cho các con có tình cảm cha mẹ. Nhưng đến nay, ông bà vẫn không thể hòa hợp được, tình cảm dành cho nhau đã hết, không thể hàng gắn được, nên đã sống ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay, mạnh ai người đó sống.

Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Lê Văn D.

Về con chung: bà T và ông D có 02 con chung tên Lê Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 05/01/2008 và Lê Nguyễn Thu H, sinh ngày 07/7/2017. Ly hôn, bà T giao 02 con cho ông Lê Văn D nuôi dưỡng, vì hiện nay 02 con đang sống với ông D, bà T không cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Lê Văn D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông D vẫn vắng mặt nên Toà án không ghi lời khai, không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải được.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

- Về tố tụng : từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với người tham gia tố tụng : nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và vắng mặt tại phiên tòa.

Về nội dung : Qua xem xét hồ sơ và lời khai của đương sự tại phiên tòa, Viện kiểm sát thấy rằng tình cảm vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn D không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó:

Về hôn nhân : đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Lê Văn D.

Về con chung: bà T và ông D có 02 con chung tên Lê Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 05/01/2008 và Lê Nguyễn Thu H, sinh ngày 07/7/2017. Tại phiên toà, bà T đồng ý giao 02 con cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng, mặt khác, hai cháu T1 và H đang sống với ông D. Do đó để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của 02 cháu, căn cứ theo Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao hai cháu T1 và H cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung : do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, nghe lời trình bày của đương sự và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Lê Văn D. Ông D là bị đơn trong vụ án có địa chỉ cư trú khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt:

Ông Lê Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông D là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn D tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01/2008, ngày 15/7/2008.

Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng về cách sống nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, bà T và ông D không còn sự yêu thương, quý trọng nhau, bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, hôn nhân không còn hạnh phúc. Về phía ông D, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để ông D và bà T hòa giải nhưng ông D đều vắng mặt.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng của vợ chồng bà T và ông D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[4] Về con chung:

Bà T và ông D có 02 con chung tên Lê Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 05/01/2008 và Lê Nguyễn Thu H, sinh ngày 07/7/2017. Tại phiên toà, bà T đồng ý giao 02 con cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng, mặt khác, hai cháu T1 và H đang sống với ông D. Do đó để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu, căn cứ theo Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao 02 cháu T1 và H cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng:

Do Bà T, ông D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung:

Bà T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung:

Bà T khai không có nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí:

Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Điều 51, Đ, Đ, Đ, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn D.
  2. Về nuôi con: Buộc bà Nguyễn Thị T giao 02 con chung tên Lê Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 05/01/2008 và Lê Nguyễn Thu H, sinh ngày 07/7/2017 cho ông Lê Văn D trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị T không cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn D có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Bà Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn. Ngày 29/11/2023 bà T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0019094 tại Chi cục thi hành án thành phố Phan Thiết nay chuyển sang thành án phí và sung công quỹ nhà nước. Bà T đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 29/7/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự
  • - Viện kiểm sát nhân dân Phan Thiết
  • - Toà án tỉnh Bình Thuận
  • - Thi hành án dân sự Phan Thiết
  • - UBND phường Phú Tài, Phan Thiết.
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Hà Thị Ái Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ THẢO - NGUYỄN VĂN DŨNG
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger