Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 61/2024/DS-ST

Ngày: 29-7-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bình và bà Huỳnh Thị Thúy Nga.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Chí Bảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 115/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, giữa các bên đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Địa chỉ: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Thạch Diễm. Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Trọng T. Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh tỉnh Bình Thuận – Phòng giao dịch huyện Đức Linh.

Người được ủy quyền lại: Ông Lương Long Hải N.

Chức vụ: Chuyên viên khách hàng cá nhân Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh tỉnh Bình Thuận – Phòng giao dịch huyện Đức Linh.

Địa chỉ: Số 54, đường ĐT 766, thôn 4, xã Đức Hạnh, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Võ Hùng P, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: Số 140, đường Cây sung – Bến đò, thôn 5, xã Dt, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Xuân K.

Nơi cư trú: Số 140, đường Cây sung – Bến đò, thôn 5, xã Dt, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, có mặt Đại diện hợp pháp của nguyên đơn; vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/9/2021, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – CN Bình Thuận – PGD Đức Linh đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ông Võ Hùng P, với một số thông tin như sau:

Loại thẻ: Family Credit EMV.

Hạn mức tín dụng: 20.000.000 đồng

Ngày chốt sao kê: ngày 25 hàng tháng

Dư nợ tính đến ngày 10/07/2024 là: 25.460.198đồng.

Thời điểm tháng 07/2022 ông P bắt đầu sử dụng thẻ đã được ký ca61pt in dụng vào ngày 01/9/2021 và phát sinh giao dịch vay tiêu dùng (gọi là khoản vay A) số tiền 20.000.000 đồng (Số tiền vay này được lấy ra từ hạn mức của thẻ được cấp), thời hạn 12 tháng, mỗi tháng trả gốc số tiền: 1.666.674 đồng, lãi 240.000 đồng. Trong quá trình sửa dụng ông P thường xuyên thanh toán trễ hạn nên có phát sinh phí trễ hạn là 80.000 đồng. (Theo bảng kê đính kèm)

Đến thời điểm tháng 12/2022, ông P phải thanh toán tổng gốc, lãi, phí trễ hạn của khoản vay A theo đúng tiến độ là 11.760.004đồng, tuy nhiên ông P chỉ thanh toán 7.790.006 đồng (chưa thanh toán kỳ tháng 7/2022 và 11/2022. Theo bảng kê đính kèm). Số tiền ông P đã thanh toán được hoàn lại vào trong hạn mức của thẻ nên hạn mức thẻ có thể sử dụng tiếp tục là 7.790.006 đồng.

Đến thời điểm tháng 01/2023, ông P tiếp tục phát sinh thêm 1 khoản vay tiêu dùng (gọi là khoản vay B) với số tiền là 7.000.000 đồng (Số tiền vay này được lấy ra từ hạn mức của thẻ sau khi ông P trả số tiền 7.790.006 và hoàn vào hạn mức thẻ nêu trên), thời hạn vay 4 tháng, gốc trả mỗi tháng 1.750.000 đồng, lãi 105.000 đồng. Đối với khoản vay này, ông P không thanh toán từ lúc vay đến thời điểm hiện tại nên có phát sinh phí trễ hạn 80.000 đồng (Theo bảng kê đính kèm)

Sau khi vay khoản B, thì ông P chỉ thanh toán thêm 2 kỳ của tháng 1/2023, 02/2023 cho khoản vay A và sau đó đến thời điểm hiện tại thì không còn thanh toán cho khoản vay A nữa.

Thời điểm tháng 5/2023 (cả khoản vay A và B), ông P đã vi phạm 3 kỳ liên tiếp không thanh toán theo “khoảng b, mục 24.4, điều 24 của “Điều Khoản Và Điều Kiện Phát Hành và Sử Dụng Thẻ Tín Dụng Cá Nhân Của Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín” nên sẽ bị áp dụng lãi suất quá hạn đối với T bộ dư nợ tại thời điểm vi phạm theo quy định và dư nợ bị áp dụng lãi suất quá hạn tại thời điểm vi phạm là kỳ 5/2023 có dư nợ là: 11.569.994 đồng (khoản vay A) và 7.740.000 đồng (khoản vay B). Vì vậy, các kỳ sau đó, Sacombank áp dụng lãi suất quá hạn tính trên dư nợ cuối mỗi kỳ và đến thời điểm 10/07/2024, Ông P phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 25.460.198 đồng, trong đó:

+ Khoản vay A: Dư nợ tại thời điểm vi phạm là 11.569.994 đồng và lãi quá hạn đến 10/07/2024 là 3.685.026 đồng. Tổng cộng: 15.255.020 đồng (theo bảng kê đính kèm)

+ Khoản vay B: Dư nợ tại thời điểm vi phạm là 7.740.000 đồng và lãi quá hạn đến 10/07/2024 là 2.465.178 đồng. Tổng cộng: 10.205.178 đồng (theo bảng kê đính kèm)

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông P nhiều lần không thanh toán đúng hạn theo như cam kết. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo nhắc nợ và làm việc trực tiếp với P nhưng ông P vẫn không có thiện chí trả nợ.

Theo đó, Tại mục trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 30/08/2021 có thể hiện nội dung “....Bằng việc ký vào Giấy đề nghị này, Tôi/chúng tôi xác nhận rằng Tôi/Chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Sacombank. Điều khoản và Điều kiện cùng với Giấy đề nghị này tạo thành Hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng giữa Tôi/Chúng tôi và Sacombank. Tôi/Chúng tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh từ hoặc liên quan đền việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà Tôi/Chúng tôi đã được cấp....."

Đồng thời, Tại “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (có hiệu lực từ ngày 24/08/2020)" do Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín phát hành và đã được công bố trên trang thông tin điện tử chính thức của Sacombank (https://www.sacombank.com.vn) có các quy định về lãi suất (mục 1.24), các loại phí (Điều 25), cách xác định lãi (kể cả lãi quá hạn) và trách nhiệm do vi phạm (Điều 23 và 24), ngoài ra tại Điều 17 của Điều khoản và điều kiện còn có quy định về “Vượt hạn mức”, kể cả phí do vượt hạn mức.

Ông P tự nguyện ký kết vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 31/08/2021 với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín sau khi được CBNV ngân hàng tư vấn để được cấp tín dụng, nên ông P đã biết các Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Tuy nhiên, ông P đã không thanh toán theo thỏa thuận và đã vi phạm các cam kết, thỏa thuận đã ký kết với Ngân Hàng.

Trong đơn khởi kiện, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín yêu cầu chấm dứt hợp đồng thẻ tín dụng lập ngày 01/9/2021; yêu cầu ông Võ Hùng P và bà Huỳnh Thị Xuân K liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ gốc và lãi là 23.695.032 đồng và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 14/3/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng.

Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Xuân K: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ (thông qua hình thức niêm yết công khai) thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không cung cấp ý kiến phản đối, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà:

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu chấm dứt hợp đồng tín dụng thể hiện tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu vợ chồng ông P, bà K có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn tổng số tiền dư nợ của hợp đồng tín dụng thể hiện tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 tính đến ngày 29/7/2024 là 15.434.340đồng (theo tóm tắt sao kê lập ngày 29/7/2024) và yêu cầu ông P, bà K tiếp tục chịu lãi từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ vay theo như thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên đương sự tại phiên tòa hôm nay, xét thấy việc nguyên đơn khởi kiện là hoàn T có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông P và bà K có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ vay gốc là 14.708.094đồng cùng với số tiền lãi hai bên đã thỏa thuận theo hợp đồng đã cam kết, kèm các chi phí phát sinh khác của Ngân hàng.

Về án phí: Buộc ông P và bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

(có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng bị đơn thanh toán tiền nợ vay và lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng; bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 6, thôn 5, xã Dt, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp cần giải quyết theo vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

[2] Về tố tụng: Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đối với ý kiến thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn giải trình yêu cầu khởi kiện ban đầu và lý do thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau: Theo đơn khởi kiện ban đầu thì Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín yêu cầu chấm dứt hợp đồng thẻ tín dụng lập ngày 30/8/2021; yêu cầu ông Võ Hùng P và bà Huỳnh Thị Xuân K liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ gốc và lãi là 23.695.032 đồng và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 14/3/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng. Số tiền 23.695.032đồng là khoản tiền dư nợ và lãi tính đến ngày 14/3/3024 của 02 khoản vay tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ ký kết ngày 09/01/2023.

Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn đính chính ngày ký cấp tín dụng đối với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng là ngày 01/9/2021, còn ngày 30/8/2021 là ngày khách hàng đề nghị cấp thẻ tín dụng, đồng thời Đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng trên thực tế thì khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thì thẻ tín dụng đã bị khóa, không thực hiện được các giao dịch khác nên rút lại yêu cầu chấm dứt hợp đồng thẻ tín dụng lập ngày 01/9/2021; đồng thời, tại đơn khởi kiện nguyên đơn chưa trình bày rõ về khoản vay tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ ký kết ngày 09/01/2023; cho nên, đại diện hợp pháp của nguyên đơn chỉ yêu cầu yêu cầu vợ chồng ông P, bà K có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn tổng số tiền dư nợ của hợp đồng tín dụng thể hiện tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 tính đến ngày 29/7/2024 là 15.434.340 đồng (theo tóm tắt sao kê lập ngày 29/7/2024) và yêu cầu ông P, bà K tiếp tục chịu lãi từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ vay theo như thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết.

Nhận thấy, việc rút và thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và trong phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về chứng cứ: Tại phiên tòa, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn cung cấp cho Hội đồng xét xử 01 tóm tắt sao kê lập ngày 29/7/2024; ngoài ra, các đương sự không nộp tài liệu, chứng cứ mới nào khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa và Tòa án đã thu thập được theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

[4] Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và do các đương sự cung cấp tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

[4.1] Về tính pháp lý của giao dịch dân sự:

Căn cứ vào bản sao Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín và ông Võ Hùng P thì có cơ sở xác định đây là hợp đồng tín dụng thanh toán qua hình thức cấp thẻ tín dụng (loại thẻ: JCB Jspeedy Cre Classic), lập thành văn bản, có thỏa thuận lãi suất vay và các thỏa thuận khác. Tại thời điểm xác lập giao dịch vay tiền hai bên đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội; do đó, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín và ông Võ Hùng P đảm bảo các quy định tại Điều 117, 118, 119, 463 của Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng, nên được pháp luật dân sự bảo vệ.

Căn cứ Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền là có căn cứ và đúng quy định.

[4.2] Về xác định nghĩa vụ trả nợ vay:

Tại Điều 280 của Bộ luật dân sự quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau:

“1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Tại Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu bị đơn Võ Hùng P và người liên quan Huỳnh Thị Xuân K có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn số tiền tổng dư nợ tính đến ngày 29/7/2024 là 15.434.340 đồng, trong đó số tiền dự nợ tính đến ngày 25/5/2023 là 11.569.994 đồng, tiền lãi phát sinh tính đến ngày 29/7/2024 là 3.864.346 đồng và yêu cầu trả số tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ vay theo như thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Xuân K: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ (thông qua hình thức niêm yết công khai) thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không cung cấp ý kiến phản đối, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại mục “Cam kết” trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 có thể hiện nội dung “....Bằng việc ký vào Giấy đề nghị này, Tôi/chúng tôi xác nhận rằng Tôi/Chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Sacombank. Điều khoản và Điều kiện cùng với Giấy đề nghị này tạo thành Hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng giữa Tôi/Chúng tôi và Sacombank. Tôi/Chúng tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh từ hoặc liên quan đền việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà Tôi/Chúng tôi đã được cấp.....”

Tại “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (có hiệu lực từ ngày 24/8/2020)” do Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín phát hành và đã được công bố trên trang thông tin điện tử chính thức của Sacombank (https://www.sacombank.com.vn/ho-tro) có các quy định về các loại phí (mục 25), cách xác định lãi (kể cả lãi quá hạn) và trách nhiệm do vi phạm (mục 23 và 24), ngoài ra tại mục 17 của Điều khoản và điều kiện còn có quy định về “Vượt hạn mức”, kể cả phí do vượt hạn mức.

Ông Võ Hùng P tự nguyện ký kết vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín để được cấp tín dụng với số tiền 20.000.000đồng (Hợp đồng thẻ tín dụng), nên ông P đã biết các Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.

Đối với Hợp đồng tín dụng thể hiện qua Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021, sau khi rút số tiền được cấp tín dụng thì sau đó ông P đã nhiều lần thực hiện các giao dịch thanh toán phí trễ hạn, lãi, phí cho Ngân hàng, đồng thời ông P lại tiếp tục thực hiện giao dịch rút tiền trong thẻ được cấp tín dụng (theo tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp), từ ngày 25/5/2023 đến 25/8/2023 (3 kỳ liên tiếp) ông P không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận, như vậy ông P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã được thỏa thuận trong hợp đồng và tại mục 24.4 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (có hiệu lực từ ngày 24/8/2020), cho nên số tiền dư nợ của ông P với Ngân hàng TMCP sài Gòn thương tín tính đến ngày 25/5/2023 là 11.569.994đồng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền dư nợ tính đến ngày 25/5/2023 là 11.569.994đồng và các khoản lãi phát sinh đến ngày 29/7/2024 là 3.864.346đồng là có căn cứ, phù hợp với các điều khoản đã được giao kết, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.3] Về xác định người có nghĩa vụ thanh toán: Tại Công văn số 56/UBND ngày 20/6/2024 của Ủy ban nhân dân xã Dt, huyện Đức Linh đã khẳng định bà K và ông P có đăng kết hôn vào ngày 26/5/2020 tại UBND xã Dt; mặt khác trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021, bị đơn đã ghi thông tin vợ của bị đơn là bà Huỳnh Thị Xuân K, để được cấp tín dụng. Như vậy, khoản nợ mà ông P xác lập với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín phát sinh trong thời kỳ hôn nhân với bà K, mục đích vay tiền của bị đơn là vay tiêu dùng, để phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Tại khoản 1 Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình như sau:

“1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.”

Tại khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như sau:

“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;"

Tại Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng như sau:

“1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

Từ các quy định của pháp luật đã được viện dẫn nêu trên cho thấy: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu ông P và bà K liên đới thanh toán cho nguyên đơn số tiền tổng dư nợ đã được nhận định tại mục [4.2] của bản án này là hoàn T có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.4] Về lãi suất:

Tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và tại Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính, hướng dẫn về việc xét xử và thi hành án về tài sản, theo đó lãi suất theo hợp đồng tín dụng không bị giới hạn bởi mức trần lãi suất cơ bản mà phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng.

Tại phiên tòa, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bị đơn phải trả lãi suất quá hạn trên T bộ dư nợ (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, các loại phí tính đến ngày 25/5/2023 là 11.569.994đồng), với số tiền lãi tính đến ngày 29/7/2024 là 3.864.346đồng và yêu cầu vợ chồng bị đơn tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 30/7/2024 đến khi trả xong T bộ các khoản nợ là phù hợp với các thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021, mục 1.9, mục 1.24 và mục 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (có điều khoản về áp dụng lãi suất quá hạn đối với T bộ dư nợ theo quy định của Sacombank), đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính và Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo quyết định số 689/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 93; Điều 95; khoản 2 Điều 219, Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 147; Điều 161, Điều 262; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 280, Điều 288, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; các Điều 91, 94, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 (được công bố theo quyết định số 689/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân Tối cao); Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chấm dứt Hợp đồng tín dụng thể hiện qua Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín với ông Võ Hùng P.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín.

Buộc ông Võ Hùng P và bà Huỳnh Thị Xuân K có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín số tiền dư nợ (đối với Hợp đồng tín dụng thể hiện qua Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín với ông Võ Hùng P) là 11.569.994đồng (bằng chữ: mười một triệu, năm trăm sáu mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi bốn đồng) và số tiền lãi tính đến ngày 29/7/2027 là 3.864.346đồng (bằng chữ: Ba triệu, tám trăm sáu mươi bốn nghìn, ba trăm bốn mươi sáu đồng). Tổng cộng là: 15.434.340 đồng (bằng chữ: mười lăm triệu, bốn trăm ba mươi bốn nghìn, ba trăm bốn mươi đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 01/9/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín và ông Võ Hùng P.

3. Về án phí:

- Buộc ông Võ Hùng P và bà Huỳnh Thị Xuân K phải nộp số tiền 771.000 (bằng chữ: bảy trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

- Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín số tiền 592.000 (bằng chữ: Năm trăm chín mươi hai nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo các biên lai thu tiền số: 0004335 ngày 25 tháng 3 năm 2024.

4. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự P thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, tập án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 61/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger