|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2023/HS-ST
Ngày: 28-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Thanh Hoàng;
- Ông Châu Kim Ba.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 21 và 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2023/TLST-HS, ngày 19 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên đối với các bị cáo:
1. Chau C, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; cha là Chau L (chết); mẹ là Neàng T (chết); vợ là Neàng R, sinh năm 1972; có 04 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 2000; A, chị em ruột có 02 người, bị can là người thứ 2; Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống cùng cha mẹ, học đến lớp 01 thì nghỉ, sống bằng nghề làm ruộng, làm thuê;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Chau C2, sinh năm 2000; nơi cư trú: Ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; cha là Chau C, sinh năm 1965; mẹ là Neàng R, sinh năm 1972; có 04 anh em ruột, bị can là người thứ 4; Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống cùng cha mẹ, học đến lớp 08 thì nghỉ, sống bằng nghề làm ruộng, làm thuê;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/6/2023 cho đến nay.
Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Lê Hồ Bích H, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Bị hại: Ông Chau C1, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Phan Đăng H1, Luật sư Công ty L1 – Đoàn Luật sư thành phố C.
Người làm chứng:
- Neàng Sa I, sinh năm 1965;
- Chau Quyên, sinh năm 1964;
- Neàng Rưm, sinh năm 1972;
Người phiên dịch: Ông Lục Tà D – Công tác tại Đ thị xã T.
Các bị cáo, người bào chữa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người làm chứng, người phiên dịch có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22/12/2022, Chau C dùng đòn gánh dài 143cm gánh lúa cùng với vợ bà Neàng R và con ruột là Chau C2 cầm cây chang dài 150cm (01 đầu thanh gỗ có gắn tấm lưỡi kim loại) mang lúa giống đi xạ ở đất ruộng ấp A, xã A, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh An Giang. Thấy ông Chau C1 cùng với vợ bà Neàng Sa I1 đang xạ lúa và cuốc đất ruộng giáp ranh với đất ruộng của C.
Lúc này, C cho rằng ông C1 cuốc bờ ruộng lấn qua đất của C, nên C cự cãi và thách thức đánh nhau với ông C1, lúc này khoảng cách giữa ông C1 và C là khoảng 01 mét, thì ông C1 cầm cây đòn gánh đánh C, C đưa cây đòn gánh lên đỡ nên không trúng, rồi C cầm cây đòn gánh đánh trúng vào chân của ông C1 nhưng không gây thương tích. Cùng lúc này, C làm ruộng gần đó nghe tiếng la nhìn qua thấy, ông C1 đi lùi về phía sau rồi tự vấp té ngồi trên đất, C cầm đòn gánh đứng đối diện đánh nhiều cái vào người ông C1 (nhưng không nhớ đánh bao nhiêu cái), ông C1 đưa cây đòn gánh lên đỡ nên trúng vào mu bàn tay bên phải của ông C1 gây thương tích. Khi C2 thấy ông C1 té ngã, C2 lấy cây chang đang cầm trên tay ném ông C1 nhưng không trúng, C2 thấy ông C1 ngồi dậy liền nhặt cây chang cầm gần phần lưỡi, C2 đứng cách ông C1 khoảng 01 mét cầm cây chang bằng hai tay đánh ngang (đánh bằng phần cán gỗ) 02 cái trúng vào vùng cột sống lưng bên trái của ông C1 gây thương tích, thì được ông Q, bà R bà I1 chạy đến can ngăn. Sau đó, ông C1 được người nhà đưa đi điều trị tại bệnh viện Đ, đến ngày 06/01/2023 ông C1 xuất viện.
Kết luận giám định số 53/23/KLTTCT-TTPY ngày 19/05/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- + Chấn thương vùng cột sống thắt lưng, gây gãy mỏm ngang L2,L3,L4,L5 bên trái: Tỷ lệ là 21%;
- + Chấn thương bàn tay phải: Sưng nề và sây sát không tồn tại. Gây gãy xương đốt bàn ngón V bàn tay phải: Tỷ lệ 06%;
- + Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 26%.
Kết luận khác: Thương tích trên do vật tày gây nên.
Cáo trạng số 58/CT-VKSTB-HS ngày 18/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố các bị cáo Chau C và Chau C2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa,
Bị cáo Chau C khai nhận, bị cáo cùng vợ là Nèang Rưm làm ruộng trên đất của gia đình, thấy bị hại Chau Chron cuốc đất trên bờ ranh đất của bị cáo nên đến hỏi và hai bên xảy ra cự cãi, do bị hại có lời lẽ thách thức nên bị cáo mới dùng đòn gáng đánh bị hại. Bị cáo xác định thương tích ở bàn tay phải của bị hại là do chính bị cáo dùng đòn gánh gỗ đánh và bị hai đưa tay đỡ, không phải dùng búa chém như bị hại đã khai. Bị cáo đồng ý bồi thường chi phí điều trị cho bị hại số tiền 26.970.000 đồng như bị hại yêu cầu, đối với các khoản thiệt hại khác bị cáo không đồng ý bồi thường do hoàn cảnh gia đình bị cáo không có khả năng bồi thường theo nội dung đơn yêu cầu của bị hại.
Bị cáo Chau C2 khai nhận, do thấy cha của bị cáo là Chau C đánh nhau với bị hại nên bị cáo mới chạy đến tiếp và có dùng cây chang đánh vào người bị hại, trúng vào vùng lưng của bị hại gây thương tích. Về yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bị hại, bị cáo không có tiền để bồi thường.
Bị hại Chau C1 cho biết, ngày xảy ra sự việc hai bên không xảy ra mâu thuẫn gì, trước đó giữa hai bên gia đình có xảy ra mâu thuẫn và xảy ra cự cãi với nhau về ranh đất. Bị hại xác định thương tích ở bàn tay của bị hại là do bị cáo Chau C dùng búa sắc bén chém, không phải dùng đòn gánh đánh như bị cáo Chau C khai. Bị hại yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 747.970.000 đồng, bao gồm các khoản thiệt hại như bảng kê chi phí thiệt hại mà bị hại đã kê và nộp cho cơ quan điều tra.
Người làm chứng bà Neàng Sa Il (vợ bị hại) cho biết, bà có trực tiếp chứng kiến sự việc và xác định thương tích ở bàn tay phải của bị hại là do bị cáo Chau C dùng búa chém không phải dùng đòn gánh đánh và chính bà là người đến công an xã A trình báo sự việc cũng như thấy công an xã có thu giữ cây búa.
Ông Chau Q1 có lời khai cho biết, thời điểm xảy ra sự việc ông có ở gần đó và có thấy bị cáo Chau C dùng đòn gánh gỗ đánh bị hại, không phải cây búa và bị cáo Chau C2 thì dùng cây chang đánh bị hại.
Bà Neàng R cho biết, bà không tham gia đánh nhau, khi hai bên xảy ra xô xát bà có đến can ngăn.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với quan điểm bào chữa của người bào chữa. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo hối cải về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày:
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích, vật chứng được thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định hành vi mà các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, tính chất của đồng phạm; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Về hình phạt chính,
- - Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chau C từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù về tội cố ý gây thương tích nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo từ 04 năm đến 05 năm; giao bị cáo Chau C cho Ủy ban nhân dân xã A, thị xã T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chau C2 từ 02 năm 6 tháng tù đến 03 năm tù về tội cố ý gây thương tích.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 02 cây đòn gánh dài lần lượt là 143cm, 153cm và 01 cây chang cuốc đất (có gắn 01 tấm lưỡi kim loại) dài 150cm.
Về trách nhiệm dân sự,
- Về chi phí, khám chữa bệnh số tiền 26.970.000 đồng, tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị công nhận sự tự nguyện này của các bị cáo.
- Về tiền xe đi lại, khám bệnh và tái khám: Căn cứ các hóa đơn tiền thuốc và khám bệnh thể hiện 07 lượt, mỗi lượt 1.000.000 đồng, đề nghị chấp nhận chi phí này với số tiền 7.000.000 đồng.
- Về chi phí bồi dưỡng sức khỏe: Bị hại nằm điều trị với thời gian tại bệnh viện là 16 ngày x 160.000 đồng/ngày = 2.560.000 đồng.
- Về thu nhập của người bị thiệt hại: Bị hại khai là làm ruộng, rẫy, không có thu nhập ổn định, đồng thời không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thu nhập nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thì xác định thu nhập thiệt hại là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại.
Căn cứ Nghị định số 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, thì lương tối thiểu vùng của huyện nay là thị xã T là 3.250.000 đồng/tháng, tương đương 01 ngày là 125.000 đồng. Do đó,
+ Thu nhập của bị hại là: 03 tháng x 125.000 đồng = 11.250.000 đồng;
+ Thu nhập của người chăm sóc là: 03 tháng x 125.000 đồng = 11.250.000 đồng.
Về yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần, đề nghị các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền là 23.400.000 đồng, tương đương 13 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Đối với yêu cầu thiệt hại vĩnh viễn số tiền 350.000.000 đồng, đề nghị không chấp nhận do thiệt hại thực tế được tính thanh tiền tại thời điểm xét xử. Thiệt hại phát sinh sau thời điểm giải quyết bồi thường sẽ giải quyết bằng bằng vụ án khác. Tổng thiệt hại các bị cáo có trách nhiệm bồi thường là 82.430.000 đồng. Các bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 20.000.000 đồng khắc phục hậu quả nên các bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại là 62.430.000 đồng.
Bào chữa cho các bị cáo, người bào chữa thống nhất quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị công nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo về chi phí điều trị số tiền 26.970.000 đồng; các khoản thiệt hại khác mà bị hại yêu cầu đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật, đồng thời có xem xét thêm số tiền chi phí điều trị 26.970.000 đồng mà các bị cáo đồng ý bồi thường, có nhiều khoản bị hại không có hóa đơn và bị hại chỉ nộp tạm ứng chi phí điều trị nhưng bị hại vẫn kê vào chi phí điều trị.
Bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, Luật sư Phan Đăng H1 trình bày:
Về tội danh không có ý kiến tranh luận, về mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo không có ý kiến. Riêng về việc đề nghị cho bị cáo Chau C được hưởng án treo, Luật sư cho rằng hành vi của bị cáo Chau C là có tính chất côn đồ, do đó căn cứ theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì trường hợp này không được cho hưởng án treo, do các bên không có mâu thuẫn gì trước, bị cáo tự ý gây thương tích cho bị hại.
Về trách nhiệm dân sự, đối với chi phí điều trị các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, đề nghị Tòa án công nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo.
Về chi phí đi lại, bị hại thuê xe đi tái khám và điều trị tổng cộng là 12 lượt, có xác nhận của người chuyên chở và chứng từ tái khám, điều trị nên đề nghị chấp nhận số tiền đi lại để điều trị thương tích là 12 lượt, số tiền 12 triệu đồng, tương đương 01 triệu đồng/01 lượt.
Về chi phí mất thu nhập, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức thu nhập 125.000 đồng/ngày là thấp so với thu nhập thực tế của lao động tại địa phương nên đề nghị Tòa án xem xét lại đối với khoản thiệt hại này.
Về chi phí tổn thất tinh thần, theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định mức bồi thường tổn thất tinh thần trong trường hợp các bên không thỏa thuận được là không quá 50 lần mức lương cơ sở, đề nghị Tòa án chấp nhận mức bồi thường tổn thất tinh thần là 50 tháng lương cơ sở, tương đương số tiền là 90.000.000 đồng.
Về khoản bồi thường thiệt hại vĩnh viễn, đề nghị Tòa án xem xét theo quy định pháp luật.
Tranh luận với Luật sư, đại diện Viện kiểm sát cho rằng không có sự vô cớ mà bị cáo Chau C gây thương tích cho bị hại, giữa các bên đã có mâu thuẫn từ trước về ranh đất và ngày xảy ra sự việc do bị thách thức từ bị hại, bị cáo mới gây thương tích cho bị hại nên không xem hành vi mà bị cáo Chau C thực hiện là có tính chất côn đồ. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, căn cứ vào các hóa đơn điều trị thì chỉ xác định có 07 lượt đi nên đề nghị mức 7.000.000 đồng, mỗi lượt 01 triệu đồng là phù hợp. Về thiệt hại mất thu thập, do bị hại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên căn cứ tính mức thu nhập là theo lương tối thiểu vùng được Chính phủ quy định.
Tham gia ý kiến tranh luận, người bào chữa cho các bị cáo, đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo Chau C được hưởng án treo như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.
Tiếp tục ý kiến tranh luận, Luật sư cho rằng bị hại mới chỉ tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng trong tổng số hơn 80.000.000 đồng mà Viện kiểm sát đề nghị, chưa được 2/3 thiệt hại nên không được xem là khắc phục hậu quả để hưởng tình tiết giảm nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng,
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an nhân dân thị xã T; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quyền hạn, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nên không đề cập xem xét.
Về nội dung,
[3] Hành vi phạm tội:
Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, hồ sơ bệnh án điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Đ, biên bản khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đính kèm cùng tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, diễn biến sự việc như nội dung vụ án thể hiện.
Ngoài ra, lời khai nhận của các bị cáo về hành vi đã thực hiện còn phù hợp với vật chứng của vụ án được cơ quan điều tra thu giữ.
Từ đó, có căn cứ xác định, xuất phát từ mâu thuẫn tranh chấp đất đai trước đây, khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22/13/2022 khi thấy bị hại Chau Chron cuốc đất tại phần đất giáp ranh, nghĩ bị hại có hành vi lấn ranh đất của mình nên bị cáo Chau C và bị hại đã xảy ra mâu thuẫn, không điều chỉnh được hành vi từ việc thách thức đánh nhau của bị hại, bị cáo Chau C đã dùng cây đòn gánh bằng gỗ đánh trúng vào mu bàn tay phải của bị hại gây thương tích.
Thấy cha là bị cáo Chau C đánh nhau với bị hại, bị cáo Chau C2 chạy đến và dùng cây chang – công cụ bị cáo dùng cào đất (thân gỗ phần đầu có gắn tấm kim loại) cùng tham gia đánh bị hại. Bị cáo Chau C2 cầm cây chang đánh trúng vào vùng lưng gây tổn thương cột sống thắt lưng của bị hại.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi thực hiện là gây tổn hại cho sức khỏe và thương tích cho người khác nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, dẫn đến thương tích cho bị hại được thể hiện tại Kết luận Giám định pháp y về thương tích số 53/23/KLTTCT-TTPY ngày 19/05/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh A là 26%. Đồng thời, công cụ mà các bị cáo sử dụng để gây thương tích cho bị hại là cây đòn gánh gỗ và cây chang (loại công cụ dùng cào đất, một đầu có gắn tấm kim loại), đây được xem là hung khí nguy hiểm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố đối với các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Sức khỏe là vốn quý của mỗi cá nhân và là nền tảng để mỗi người lao động, phát triển. Chính vì vậy, quyền được an toàn về sức khỏe của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đối với những người xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất, là hình phạt.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
[4] Xem xét tính chất của đồng phạm:
Đây là vụ án có đồng phạm, thuộc trường hợp giản đơn, các bị cáo không có sự câu kết, bàn bạc, thỏa thuận cũng như phân công cụ thể từ trước mà cùng có sự thống nhất ý chí trong thực hiện tội phạm; bị cáo Chau C2 thấy cha là bị cáo Chau C đánh nhau với bị hại, bị cáo chạy đến cùng với cha tham gia đánh bị hại. Thấy bị cáo Chau C2 dùng cây chang đánh bị hại, bị cáo Chau C mặc dù có mặt kế bên nhưng không có hành động can ngăn, thể hiện ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Tuy nhiên, có xem xét đến tính chất, hậu quả và mức độ tham gia của từng bị cáo trong đồng phạm khi quyết định hình phạt như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.
[5] Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; đồng thời có sự chủ động trong việc bồi thường, khắc phục hậu quả. Cụ thể, bị cáo Chau C chủ động đến Tòa án nộp đơn xin khắc phục hậu quả số tiền 15.000.000 đồng. Bị cáo Chau C2 đã tác động gia đình được mẹ là bà Neàng R làm đơn xin nộp tiền khắc phục hậu quả thay bị cáo số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[6] Xem xét đề nghị của Viện kiểm sát về việc cho bị cáo Chau C được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự), lý lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, mới phạm tội lần đầu. Đồng thời nhận thấy, từ khi sự việc xảy ra đến nay, trong thời gian được tại ngoại, bị cáo không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác.
Xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội từ hành vi do bị cáo gây ra trong đồng phạm, nhận thấy bị cáo chỉ gây ra tổn thương cho cơ thể của bị hại là 6%.
Do đó, Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và quan điểm bào chữa cho bị cáo về việc cho bị cáo Chau C được hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự được hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xem xét quan điểm của Luật sư cho rằng, hành vi của bị cáo Chau C là có tính chất côn đồ, thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Thấy rằng, việc bị cáo Chau C có hành vi dùng đòn gánh gô đánh trúng vào vùng mu bàn tay phải của bị hại gây thương tích có nguyên nhân từ mâu thuẫn về tranh chấp đất đai trước đó, điều này cũng được bị hại xác định tại biên bản đối chất ngày 21/9/2023; đồng thời ngày xảy ra sự việc do các bên có lời lẽ thách thức qua lại với nhau, không phải vô cớ bị cáo Chau C dùng đòn gánh gỗ đánh bị hại gây thương tích. Do đó, quan điểm Luật sư cho rằng giữa các bên không có mâu thuẫn, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ là không phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường chi phí điều trị số tiền 26.970.000 đồng theo yêu cầu của bị hại, xét đây là sự tự nguyện của các bị cáo nên chấp nhận.
- Về chi phí đi lại, căn cứ các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ do bị hại cung cấp nhận thấy, sau khi nằm viện điều trị tại Bệnh viện Đ từ ngày 23/12/2022 đến ngày 06/01/2023 (15 ngày), bị hại tiếp tục tái khám để điều trị và thuê xe đi giám định thương tích, thể hiện qua chi phí tiền thuê xe được ông Chau Sóc K xác nhận với tổng số tiền 10 lượt đi là 10.000.000 đồng, chi phí thuê xe này là hợp lý nên chấp nhận.
- Về chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại, căn cứ Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám chữa bệnh, tính theo số ngày trong hồ sơ bệnh án. Bị hại điều trị tại Bệnh viện Đ thuộc thành phố L, tỉnh An Giang với số ngày điều trị theo hồ sơ bệnh án là 15 ngày. Do đó, chi phí bồi dưỡng sức khỏe được xác định là: 160.000 đồng/ngày x15 ngày = 2.400.000 đồng.
- Về xác định thiệt hại thu nhập bị mất, bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bị hại và người nuôi dưỡng trong 03 tháng, mỗi tháng là 21.000.000 đồng, tương đương số tiền 63.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh về thu nhập bị thiệt hại; không yêu cầu Tòa án tách phần trách nhiệm dân sự để giải quyết trong vụ án khác để có điều kiện thu thập, cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Do đó, Tòa án căn cứ vào Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định thu nhập bị thiệt hại theo lương tối thiểu vùng nơi bị hại sinh sống để làm căn cứ xem xét.
Cụ thể, bị hại sinh sống và cư trú tại thị xã T, căn cứ Nghị định số 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, thì lương tối thiểu vùng của huyện nay là thị xã T là 3.250.000 đồng/tháng, tương đương 01 ngày là 125.000 đồng.
Do đó, thu nhập bị thiệt hại của bị hại và của người chăm sóc được xác định là 125.000 đồng/ngày x 90 ngày x 2 người = 22.500.000 đồng.
- Về tổn thất tinh thần, theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp các bên không có thỏa thuận thì mức thiệt hại tổn thất tinh thần là không quá 50 tháng lương cơ sở, tổn thương cơ thể của bị hại qua giám định là 26% nên Viện kiểm sát đề nghị mức bồi thường số tiền là 23.400.000 đồng, tương đương 13 tháng lương cơ sở là phù hợp nên chấp nhận.
- Về khoản bồi thường thiệt hại vĩnh viễn sức lao động, bị hại yêu cầu bồi thường thu nhập từ đây đến năm 65 tuổi là 07 năm, tương đương số tiền 350.000.000 đồng (mỗi năm 50.000.000 đồng). Thấy rằng, theo Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thiệt hại thực tế được tính đến thời điểm giải quyết bồi thường. Thiệt hại phát sinh sau thời điểm bồi thường lần đầu được xác định tại thời điểm giải quyết bồi thường lần tiếp theo nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại. Do đó, không có căn cứ xem xét khoản bồi thường thiệt hại này của bị hại như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Như vậy, tổng thiệt hại các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại được xác định là: 26.970.000 đồng + 10.000.000 đồng + 2.400.000 đồng + 22.500.000 đồng + 23.400.000 đồng = 85.270.000 đồng. Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, các bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền là 65.270.000 đồng.
[8] Về xử lý vật chứng, 01 cây chang cào lúa (có gắn 01 tấm kim loại) và 02 cây đòn gánh dài lần lượt là 143cm, 153cm, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
[10] Về vấn đề khác:
Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng bà Neàng Sa I1 (vợ bị hại) cho rằng thương tích ở mu bàn tay phải của bị hại là do bị cáo Chau C dùng búa chém, không phải dùng đòn gánh gỗ đánh như bị cáo khai. Tuy nhiên, theo kết quả giám định, kết luận thương tích của bị hại là do vậy tày gây ra, không phải vật sắt bén. Ngoài ra, căn cứ lời khai của người làm chứng ông Chau Q1 xác định, bị cáo Chau C chỉ dùng đòn gánh gỗ đánh bị hại; đồng thời, căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường kèm tập bản ảnh và biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc do cơ quan điều tra lập có sự tham gia chứng kiến của bà Neàng Sa I1, bị hại Chau Chron; biên bản tiếp nhận tin báo tội phạm và biên bản thu giữ vật chứng do Công an xã A lập không thể hiện có thu giữ vật chứng vụ án là cây búa như bị hại và bà Neàng Sa I1 đã khai. Do đó, không có căn cứ xác định thương tích của bị hại là do bị cáo Chau C dùng búa chém.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo: Chau C, Chau C2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Chau C 02 (hai) năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (28/11/2023);
Giao bị cáo Chau C cho Ủy ban nhân dân xã A, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Chau C2: 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo Chau C2 được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam: 29/6/2023 (hai mươi chín, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 587 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc các bị cáo: Chau Chiên, Chau C2 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Chau C1 số tiền 65.270.000 (sáu mươi lăm triệu, hai trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Giao trả cho ông Chau C1 số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đồng do bị cáo Chau C và đại diện gia đình bị cáo C4 chiếs tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 0004656 ngày 13/11/2023 và biên lai thu tiền số 0004657 ngày 20/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 cây thanh gỗ (đòn gánh) dài 143cm, hai đầu bằng, bề rộng nhất 5,5cm, bề nhỏ nhất 3,5cm;
- + 01 cây thanh gỗ tròn bàng gỗ tre dài 150cm, 01 đầu thanh gỗ có gắn 01 tấm lưỡi kim loại kích thước 38cm x 11cm (gọi là cây chang cào lúa hoặc cây lưỡi cào trơn) đường kính rộng nhất 11,5cm; đường kính nhỏ nhất 09cm;
- + 01 cây thanh gỗ (đòn gánh) dài 153cm, hai đầu bằng, bề rộng nhất 5,8cm, bề nhỏ nhất 4,3cm;
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 10 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc các bị cáo: Chau Chiên, Chau C2 cùng liên đới chịu 3.263.500 (ba triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
(Đã giải thích chế định án treo).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thanh Tâm |
Bản án số 61/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 61/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
