Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 11 - 2023

V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Chiến

Ông Nguyễn Đình Đại

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2023/ TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXX-ST ngày 01 tháng 11 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 18/2023/TB-TA ngày 17 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Hà Thị Hải Y, sinh năm 1983.
  • Địa chỉ: Khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Nam Q, sinh năm 1970.
  • Địa chỉ: Khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
  • (Chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Q vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Hà Thị Hải Y trình bày: Chị và anh Q kết hôn ngày 28/4/2003, đăng ký tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, vợ chồng hay sảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã vì anh Q hay rượu chè, không quan tâm đến gia đình. Gần đây mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng hơn nên không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến nay xét thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.

    • - Về con chung: Chị và anh Q có 02 con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 17/1/2004 và Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 16/1/2010. Hiện cháu T đang đi học đại học tại Hà Nội, cháu Đ đang ở cùng anh chị. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ. Không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Cháu T đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
  2. Bị đơn anh Nguyễn Nam Q trình bày: Anh và chị Y kết hôn ngày 28/4/2003, đăng ký tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Thời gian gần đây vợ chồng thi thoảng có sảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Chị Y thường xuyên đi làm vắng nhà nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Đến nay chị Y đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh. Quan điểm của anh là đồng ý ly hôn.

    • - Về con chung: Anh và chị Y có 02 con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 17/1/2004 và Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 16/1/2010. Hiện cháu T đang đi học đại học tại Hà Nội, cháu Đ đang ở cùng anh chị. Quan điểm của anh là tôn trọng lựa chọn của cháu Đ, nếu cháu Đ muốn ở cùng chị Y thì anh cũng đồng ý, còn cháu Đ muốn ở cùng anh thì anh sẽ nuôi cháu, không yêu cầu chị Y cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Cháu T đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

    Do bận công việc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.

  3. Ý kiến của con chung:

    • - Con chung là cháu Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 16/1/2010 có nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị Hà Thị Hải Y sau khi bố mẹ ly hôn.
  4. Qúa trình giải quyết vụ án các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Bị đơn anh Q đã được Tòa án gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng anh Q không đến Tòa. Do vậy Tòa án không thể tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

  5. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Điều 55 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/ UBTQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.

    • + Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị Hải Y và anh Nguyễn Nam Q.
    • + Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 16/1/2010 cho chị Hà Thị Hải Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Nam Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị Y tự nguyện không yêu cầu.
    • + Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
    • + Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Y tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là chị Hà Thị Hải Y và bị đơn là anh Nguyễn Nam Q đều có nơi cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn chị Y đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt chị Y. Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo mở lại phiên tòa hợp lệ cho anh Q nhưng anh Q không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Nam Q.

[2]. Cuộc hôn nhân giữa chị Hà Thị Hải Y và anh Nguyễn Nam Q là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn ngày 28/4/2003 tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Theo chị Y thì quá trình chung sống, vợ chồng hay sảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã vì anh Q hay rượu chè, không quan tâm đến gia đình. Gần đây mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng hơn nên không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến nay xét thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị được ly hôn anh Q. Theo anh Q thì thời gian gần đây vợ chồng thi thoảng có sảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Chị Y thường xuyên đi làm vắng nhà nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Đến nay chị Y đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh. Quan điểm của anh là đồng ý ly hôn. Xét thấy, việc chị Y và anh Q thuận tình ly hôn là phù hợp với điều 55 Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Y và anh Q.

[3] Về con chung: Chị Hà Thị Hải Y và anh Nguyễn Nam Q thống nhất vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 17/1/2004 và Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 16/1/2010. Hiện cháu T đang đi học đại học tại Hà Nội, cháu Đ đang ở cùng anh chị. Ly hôn chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Quan điểm của anh Q là tôn trọng lựa chọn của cháu Đ, nếu cháu Đ muốn ở cùng chị Y thì anh cũng đồng ý, còn cháu Đ muốn ở cùng anh thì anh sẽ nuôi cháu, không yêu cầu chị Y cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Cháu T đã trưởng thành nên chị Y và anh Q không đặt ra giải quyết. Xét thấy nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con của chị Y và anh Q là hoàn toàn chính đáng, hiện tại chị Y và anh Q đều có công việc và thu nhập ổn định. Tuy nhiên, nguyện vọng của cháu Đ là muốn ở với mẹ nếu bố mẹ phải ly hôn. Do vậy để phù hợp với nguyện vọng của chị Y, anh Q và nguyện vọng của cháu Đ, cần giao cháu Nguyễn Anh Đ cho chị Hà Thị Hải Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị Y tự nguyện không yêu cầu. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Cháu T đã trưởng thành, chị Y và anh Q đều không đề nghị giải quyết nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Xét thấy việc chị Y tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp, nên cần chấp nhận.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.

  1. Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị Hải Y và anh Nguyễn Nam Q.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 16/1/2010 cho chị Hà Thị Hải Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 17/1/2004 đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết. Anh Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị Y tự nguyện không yêu cầu. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Hà Thị Hải Y tự nguyện xin chịu cả 150.000₫ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Xác nhận chị Y đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0004507 ngày 05/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho chị Hà Thị Hải Y 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - UBND xã Hùng Long;
  • - Lưu HS + VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 61/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị Hải Y và anh Nguyễn Nam Q.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger