|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 61/2024/HS-PT Ngày 28 tháng 9 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vũ
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang
Bà Nguyễn Thị Thùy Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 do có kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim Thanh và chị Vũ Thị Kiều Thu đối với Bản án hình sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 24/5/2024 của Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 185/2024/QĐXXPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Dung Hòa; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 20/5/1994, tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: không; Bố đẻ: Nguyễn Văn Bộ; Sinh năm: 1972; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Hương; sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hiện bố, mẹ đều trú tại xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là thứ nhất; Chồng: Chưa có; Con: Có 03 con (con lớn nhất sinh năm: 2017, con nhỏ nhất sinh năm: 2021); Hiện con ở khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Thị Hải - Công ty Luật TNHH Đức Hải – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội (Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà 2350B, đại lộ Hùng Vương, phường Vân Cơ, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2.2. Chị Vũ Thị Kiều Thu, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: SN 10, tầng 12, toà nhà 505, Phố Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội (có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Vũ Thị Kiều Thu.
- Bà Lê Thị Thu Hằng - Luật sư Công ty Luật TNHH Hà Ninh thuộc đoàn luật sư thành phố Hà Nội (có mặt);
Địa chỉ: Tầng 3, Toà nhà Tổng Công ty giấy số 142, phố Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội;
- Bà Nguyễn Thị Đinh Hương - Luật sư Công ty Luật TNHH Hà Ninh thuộc đoàn luật sư thành phố Hà Nội (vắng mặt);
Địa chỉ: Tầng 3, Toà nhà Tổng công ty giấy số 142, phố Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
2.2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh năm: 1967 (có mặt);
Địa chỉ: SN 151, Phố Cao Du, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
2.3. Chị Nguyễn Thị Hồng Hạnh, sinh năm: 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư Lê Đồng, phường Âu Cơ, thị xã Phú thọ, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/02/2021, chị Vũ Thị Kiều Thu, trú tại phố Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Ninh trình báo về việc: Khoảng 09 giờ sáng ngày 21/5/2020, khi chị Thu cùng mẹ đẻ là bà Thanh, đang ở nhà tại số 68, Bạch Đằng, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, thì bị cáo Nguyễn Dung Hoà đến hỏi vay bà Thanh 700.000.000 đồng (bị cáo Hòa có mối quan hệ quen biết từ trước với bà Thanh). Do bà Thanh không có tiền nên bảo bị cáo Hòa hỏi vay chị Thu. Chị Thu đồng ý cho bị cáo Hòa vay 700.000.000 đồng với điều kiện bị cáo Hòa phải có giấy tờ để làm tin; nên bị cáo Hòa đưa cho chị Thu 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đều có số bên ngoài bìa là CH951847, trong đó 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400m² đất ở và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 139, tờ bản đồ 21, diện tích 506,9m² đất trồng cây; cả 02 thửa đất này đều thuộc khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và đều mang tên Nguyễn Dung Hoà. Khi vay tiền, thế chấp tài sản, bị cáo Hòa có viết giấy biên nhận, nội dung bị cáo Hòa vay của chị Thu 700.000.000 đồng, để làm tin 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139 và 375, thỏa thuận lãi xuất là 1,2%/tháng. Đến khoảng 13 giờ chiều cùng ngày, bị cáo Hoà tiếp tục đến hỏi vay chị Thu 300.000.000 đồng, nhưng chị Thu chỉ có 260.000.000 đồng nên bị cáo Hoà đồng ý vay và viết 01 giấy biên nhận vay tiền khác, nội dung: bị cáo Hòa vay thêm của chị Thu 260.000.000 đồng và viết vào giấy tổng số tiền vay của chị Thu là 960.000.000 đồng, hẹn đến ngày 10/6/2020, sẽ trả đủ số tiền trên cho chị Thu. Chị Thu xác nhận việc bị cáo Hòa đưa cho chị Thu 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là để chị Thu giữ làm tin và cho bị cáo Hòa vay 960.000.000 đồng. Đến hẹn trả nợ, chị Thu nhiều lần gọi điện yêu cầu bị cáo Hoà trả tiền nhưng bị cáo Hòa không trả; nên ngày 11/10/2021, chị Thu đã làm đơn khởi kiện, đề nghị Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ giải quyết, buộc bị cáo Hòa phải trả cho chị Thu 960.000.000 đồng cộng tiền lãi. Quá trình giải quyết vụ án dân sự, chị Thu phát hiện, vào khoảng tháng 01/2020, bị cáo Hoà đã chuyển nhượng thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400m² đất ở thuộc khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, cho anh Vũ Anh Tuấn, trong khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này chị Thu vẫn đang giữ. Chị Thu tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Ninh 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847 mang tên Nguyễn Dung Hoà, thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400m², địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (giấy tờ giả); 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847 mang tên Nguyễn Dung Hoà, tại thửa đất số 139, tờ bản đồ 21, diện tích 506,9m², địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Xét thấy, việc vay mượn tiền, thế chấp tài sản đều diễn ra tại thị xã Phú Thọ thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ; ngày 30/06/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Ninh đã chuyển nguồn tin về tội phạm trên đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ, bị cáo Hòa khai nhận: Ngày 12/05/2020, bị cáo Hòa vay của bà Thanh, nhà ở số 68, phố Bạch Đằng, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 500.000.000 đồng. Khi vay tiền chỉ viết giấy vay tiền (giấy vay tiền này bà Thanh giữ), không thế chấp bất kỳ đồ vật, tài sản gì, thỏa thuận lãi xuất 10.000 đồng/triệu/ngày. Ngày 19/5/2020, bị cáo Hòa chuyển 40.000.000 đồng tiền lãi cho bà Thanh vào tài khoản 42210003336666, Ngân hàng BIDV, chủ tài khoản là Nguyễn Thị Hồng Hạnh (bà Thanh yêu cầu bị cáo Hòa chuyển tiền vào tài khoản này) nhưng bà Thanh không đồng ý, yêu cầu Hòa phải trả lãi 20.000 đồng/ triệu/ ngày; nên ngày 21/5/2020, bị cáo Hòa tiếp tục chuyển vào tài khoản trên 40.000.000 đồng tiền lãi. Ngoài ra, bị cáo Hòa còn trả 100.000.000 đồng tiền mặt cho bà Thanh nhưng không có giấy tờ gì. Sau đó (khoảng 02 tháng kể từ ngày vay tiền bà Thanh), do khó khăn, bị cáo không trả được tiền lãi cho bà Thanh nên bà Thanh đã đến nhà của bị cáo Hòa để đòi nợ. Tại nhà bị cáo, khi bị cáo mở két sắt để lấy tiền trả cho bà Thanh, thì bà Thanh nhìn thấy bị cáo Hòa có 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 139 và 375 (trong đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 375 là giả) nên bà Thanh lấy luôn. Có được 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị cáo, bà Thanh yêu cầu bị cáo viết lại 02 giấy vay tiền với nội dung như chị Thu trình báo; bị cáo khẳng định không vay mượn tiền của chị Thu, không thế chấp tài sản gì cho chị Thu, không viết giấy nhận nợ vào ngày 21/5/2020. Tuy nhiên, do đã viết giấy nhận nợ 960.000.000 đồng của chị Thu, nên bị cáo Hòa chấp nhận khoản nợ này, đồng thời bị cáo tự nguyện nộp 50.000.000 đồng để trả nợ cho chị Thu. Từ ngày 09/8/2022 đến ngày 18/8/2022, bị cáo đến Bệnh viện Bạch Mai để điều trị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid.
Về nguồn gốc 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kết quả điều tra xác định: Ngày 02/11/2017, bị cáo Hòa được UBND huyện Phù Ninh cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH951847, thửa đất 139; tờ bản đồ số 21 và số CH951848, thửa đất 375; tờ bản đồ số 21 có cùng địa chỉ tại khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và đều mang tên Nguyễn Dung Hòa. Sau đó, bị cáo sử dụng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH951848, thửa đất 375 để thế chấp vay tiền của anh Vũ Anh Tuấn. Việc vay tiền, thế chấp tài sản được lập dưới hình thức là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tại Văn phòng công chứng Hà Phúc Tu, địa chỉ tại khu 6, thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Trước khi lập hợp đồng chuyển nhượng, Hòa dùng điện thoại chụp ảnh 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để lưu lại. Sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng, anh Tuấn giữ hợp đồng và bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH951848 của thửa đất 375. Do lo sợ gia đình phát hiện việc sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay tiền của anh Tuấn; nên đầu tháng 02/2020, Hòa đã nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH951848 của thửa đất 375 với mục đích nếu gia đình hỏi đến 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Hòa sẽ đưa ra cho gia đình xem. Hòa dùng điện thoại truy cập mạng Internet, tìm kiếm, liên lạc và gửi 03 ảnh chụp thông tin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó, trang 01 Hòa gửi ảnh chụp nội dung của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847, trang 02 và 03 Hòa gửi ảnh chụp nội dung của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951848) cho người làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thỏa thuận giá làm giả 01 tờ là 2.000.000 đồng. Để tránh bị gia đình phát hiện, việc liên lạc thuê làm và nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, Hòa đều thực hiện tại khu vực Vimcom thuộc phường Hùng Vương, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả có đầy đủ phần chữ in, chữ ký, con dấu, còn phần “Mục IV. Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận”, bị cáo Hòa sử dụng bút trực tiếp viết vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để hoàn thiện giống như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật đã thế chấp cho anh Tuấn và cất giữ giấy này tại két sắt của bị cáo Hoà ở nhà. Sau đó, bị cáo Hòa khai bị bà Thanh lấy khi đến nhà bị cáo Hoà đòi nợ.
Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ tiến hành trưng cầu giám định các tài liệu thu giữ của chị Thu với mẫu so sánh là các tài liệu thu giữ của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phù Ninh gồm: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951848 mang tên Nguyễn Dung Hoà, thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400m² địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, do UBND huyện Phù Ninh cấp ngày 02/11/2027; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH985683 mang tên Nguyễn Dung Hòa; thửa đất 139; tờ bản đồ số 21; diện tích 991,6m² địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, do UBND huyện Phù Ninh cấp ngày 16/08/2017 và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH985139 mang tên ông Nguyễn Ngọc Phúc và bà Trần Thị Phương Dung, thửa đất 370; tờ bản đồ số 15; địa chỉ khu 10, xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, do UBND huyện Phù Ninh cấp ngày 15/06/2017 và trưng cầu giám định nội trú pháp y tâm thần đối với Hòa.
Tại bản Kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847 mang tên Nguyễn Dung Hoà, thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400m² địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ do chị Vũ Thị Kiều Thu giao nộp. Kết quả:
- - Các lớp in trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với các lớp in tương ứng trên mẫu so sánh (ký hiệu M1, M3) không phải do cùng một phương pháp in ra.
- - Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN H. PHÙ NINH T. PHÚ THỌ" dưới mục "PHÓ CHỦ TỊCH" trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- - Chữ ký đứng tên Vũ Thế Dân dưới mục "PHÓ CHỦ TỊCH" trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký đứng tên Vũ Thế Dân trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một người ký ra.
- - Chữ viết tại cột "Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý" trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết trên "Bản tự khai/Bản tường trình" đứng tên Nguyễn Dung Hòa (Mẫu so sánh ký hiệu M2) là do cùng một người viết ra.
- - Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung "VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT PHÒNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG H. PHÙ NINH T. PHÚ THỌ" tại cột "Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền" trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- - Chữ ký đứng tên Vũ Thị Hòa tại mục "Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền" trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký đứng tên Vũ Thị Hòa trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một người ký ra.
Tại Bản kết luận giám định số 1004/KL-KTHS, ngày 01/08/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847 mang tên Nguyễn Dung Hoà tại thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400m² địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ do chị Vũ Thị Kiều Thu giao nộp và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951848 mang tên Nguyễn Dung Hoà tại thửa đất 375; tờ bản đồ số 21; địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ do Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phù Ninh cung cấp. Kết quả:
- - Chữ ký đứng tên Vũ Thế Dân dưới mục “KT. CHỦ TỊCH/ PHÓ CHỦ TỊCH” trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CH 951847 (mẫu cần giám định ký hiệu Al) so với chữ ký đứng tên Vũ Thế Dân dưới mục “KT. CHỦ TỊCH/ PHÓ CHỦ TỊCH” trên 02 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CH 985683, CH 985139 (mẫu so sánh ký hiệu M1, M2) là không phải do cùng một người ký ra.
- - Chữ ký đứng tên Vũ Thế Dân dưới mục “KT. CHỦ TỊCH/ PHÓ CHỦ TỊCH” trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CH 951848 (mẫu cần giám định ký hiệu A2) so với chữ ký đứng tên Vũ Thế Dân dưới mục “KT. CHỦ TỊCH/ PHÓ CHỦ TỊCH” trên 02 ‘Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CH 985683, CH 985139 (mẫu so sánh ký hiệu M1, M2) là do cùng một người ký ra.
- - Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “UBND HUYỆN PHÙ NINH T. PHÚ THỌ” dưới mục “KT. CHỦ TỊCH/ PHÓ CHỦ TỊCH” trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CH 951847 (mẫu cần giám định ký hiệu Al) so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên 02 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CH 985683, CH 985139 (mẫu so sánh ký hiệu M1, M2) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- - Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “UBND HUYỆN PHÙ NINH T. PHÚ THỌ” dưới mục “KT. CHỦ TỊCH/ PHÓ CHỦ TỊCH” trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CH 951848 (mẫu cần giám định ký hiệu A2) so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên 02 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CH 985683, CH 985139 (mẫu so sánh ký hiệu M1, M2) là do cùng một con dấu đóng ra.
Tại Bản kết luận giám định số 1224/KL-KTHS, ngày 20/09/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847 mang tên Nguyễn Dung Hoà tại thửa đất số 139, tờ bản đồ 21, diện tích 506,9m² địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ do chị Vũ Thị Kiều Thu giao nộp. Kết quả:
- - Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “UBND HUYỆN PHÙ NINH T. PHÚ THỌ” dưới mục “ PHÓ CHỦ TỊCH” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là do cùng một con dấu đóng ra.
- - Chữ ký đứng tên Vũ Thế Dân dưới mục “PHÓ CHỦ TỊCH” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký đứng tên Vũ Thế Dân trên mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là do cùng một người ký ra.
Tại Bản kết luận giám định số 1951/KL-KTHS, ngày 21/06/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận đối với 02 giấy biên nhận mang tên Nguyễn Dung Hòa ngày 21/05/2020 do chị Vũ Thị Kiều Thu giao nộp. Kết quả:
Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Dung Hòa dưới mục “Người viết biên nhận” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Dung Hòa trên mẫu so sánh ký hiệu M do cùng một người ký, viết ra.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 40/KLGĐ, ngày 28/04/2023 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận về tình trạng bệnh lý tâm thần của Nguyễn Dung Hòa. Kết quả:
- - Nguyễn Dung Hòa bị bệnh Tâm thần phân liệt thể Paranoid, có mã F20.0 (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).
- - Tại thời điểm tháng 5/2023 Nguyễn Dung Hòa không bị bệnh Tâm thần. Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
- - Hiện tại (thời điểm giám định) Nguyễn Dung Hòa bị bệnh Tâm thần phân liệt thể Paranoid, có mã F20.0, giai đoạn bệnh thuyên giảm. Nguyễn Dung Hòa hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Căn cứ các tài liệu thu thập được, ngày 16/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ đã Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Dung Hòa về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1, Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi bị cáo Hòa sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để vay tiền của chị Thu; tại các lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo Hòa, chị Thu, bà Thanh và tại các biên bản đối chất ngày 14/01/2024 giữa bị cáo Hòa và chị Thu; biên bản đối chất ngày 14 và ngày 16/01/2024 giữa bị cáo Hòa và bà Thanh, bị cáo Hòa đều khẳng định không vay tiền của chị Thu mà chỉ vay của bà Thanh 500.000.000 đồng, khi vay không thế chấp bất kỳ tài sản gì; việc bị cáo Hòa viết 02 giấy biên nhận vay 960.000.000 đồng của chị Thu là do bà Thanh đọc cho bị cáo Hòa viết và viết sau khi bà Thanh có được 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139 và 375 lấy được ở nhà của bị cáo Hòa; bản thân bị cáo Hòa không sử dụng 02 giấy này để vay tiền vì thực tế giá trị 02 thửa đất này lớn hơn rất nhiều so với khoản tiền bị cáo Hòa vay bà Thanh. Còn bà Thanh và chị Thu khẳng định chị Thu cho bị cáo Hòa vay 960.000.000 đồng và khi vay bị cáo Hòa thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 139 và 357, bà Thanh không cho bị cáo Hòa vay khoản vay nào. Ngoài lời khai của chị Thu, bà Thanh thì Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ không thu thập được thêm bất kỳ tài liệu nào khác là chứng cứ vững chắc để khẳng định bị cáo Hòa đã có hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để vay tiền của chị Thu. Mặt khác, mục đích của chị Thu và bị cáo Hòa khi cho vay mượn tiền để 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm tin, không đăng ký giao dịch đảm bảo tại Cơ quan có thẩm quyền, không dùng giấy này để thực hiện hành vi trái pháp luật. Do đó, chưa đủ căn cứ để xử lý bị cáo Hòa về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
Đối với giao dịch vay tiền theo 02 giấy biên nhận thể hiện số tiền vay là 960.000.000 đồng và có để lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm thửa đất 139 và 375 để làm tin, trong đó có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 139 là thật. Quá trình điều tra, bị cáo Hòa khai nhận sau khi vay được tiền bà Thanh, Hòa đã trả được 180.000.000 đồng (trong đó có 02 lần chuyển khoản 80.000.000 đồng có tài liệu chứng minh và 01 lần trả tiền mặt 100.000.000 đồng không có giấy tờ) sau đó do kinh tế khó khăn, bị cáo Hòa không trả thêm được khoản tiền nào khác. Và mặc dù bị cáo Hòa khẳng định không vay tiền của chị Thu nhưng do đã viết giấy nhận nợ nên vẫn thừa nhận khoản vay 960.000.000 đồng của chị Thu và tự nguyện giao nộp 50.000.000 đồng để trả nợ cho chị Thu. Đối với bà Thanh xác nhận đã nhận của bị cáo Hòa 80.000.000 đồng qua tài khoản của chị Hạnh nhưng khoản tiền này không liên quan đến khoản tiền Hòa nợ chị Thu, bà Thanh không nhớ và không có giấy tờ chứng minh bị cáo Hòa nợ khoản tiền nào. Đối với chị Thu khẳng định, sau khi vay 960.000.000 đồng, bị cáo Hòa chưa trả nợ bất kỳ khoản tiền nào cho chị Thu. Kết quả điều tra xác định sau khi vay nợ tiền, bị cáo Hòa không bỏ trốn và cam kết trả nợ đầy đủ. Mặt khác, hiện chị Thu vẫn đang giữ của bị cáo Hòa 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847 mang tên Nguyễn Dung Hoà tại thửa đất số 139, tờ bản đồ 21, diện tích 506,9m², địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, do UBND huyện Phù Ninh cấp ngày 02/11/2020. Do đó, có cơ sở xác định bị cáo Hòa không có ý thức chiếm đoạt tiền của chị Thu nên hành vi của bị cáo Hòa không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 BLHS.
Đối với nội dung bị cáo Hòa khai báo về việc vay 500.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Kim Thanh, lãi suất 10.000 đồng/ triệu/ ngày và 20.000 đồng/ triệu/ ngày; bà Thanh không thừa nhận, ngoài lời khai của Hòa, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ không thu thập được tài liệu nào khác chứng minh. Do đó, không có căn cứ xử lý bà Thanh về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Đối với người làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho bị cáo Hòa, bị cáo Hòa không biết người này là ai, ở đâu, làm gì vì bị cáo đặt mua qua mạng xã hội; nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ không có cơ sở xác minh và xử lý.
Về điều kiện kinh tế: hiện tại Nguyễn Dung Hòa đứng tên 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH951847, thửa đất 139; tờ bản đồ số 21 và số CH951848, thửa đất 375; tờ bản đồ số 21 có cùng địa chỉ tại khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, trên thửa đất 375, Hòa xây dựng 01 căn nhà cấp 4, diện tích 200m². Ngoài ra Hòa không có tài sản chung, riêng nào có giá trị khác.
Bản án hình sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 24/5/2024 của Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Dung Hòa 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng về tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847 mang tên Nguyễn Dung Hoà, thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400m², địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (giấy giả).
Xác nhận ngày 03/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ đã trả lại cho Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phù Ninh:
- - 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951848 mang tên Nguyễn Dung Hoà tại thửa đất 375; tờ bản đồ số 21; địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
- - 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH985683 mang tên Nguyễn Dung Hòa; thửa đất 139; tờ bản đồ số 21; diện tích 991,6m² địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
- - 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH985139 mang tên ông Nguyễn Ngọc Phúc và bà Trần Thị Phương Dung, thửa đất 370; tờ bản đồ số 15; địa chỉ khu 10, xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Xác nhận, ngày 16/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ đã trả lại cho chị Vũ Thị Kiều Thu: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847 mang tên Nguyễn Dung Hoà tại thửa đất số 139, tờ bản đồ 21, diện tích 506,9m² địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Trả lại cho chị Vũ Thị Kiều Thu số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo Hòa tự nguyện giao nộp, hiện trong tài khoản tạm giữ của Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ.
Ngày 01/6/2024 bà Nguyễn Thị Kim Thanh, ngày 05/6/2024 chị Vũ Thị Kiều Thu là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án kháng cáo bản án, đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra truy tố, xét xử Nguyễn Dung Hòa về hai tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không thừa nhận khoản vay của chị Thu, tất cả là do xuất phát từ khoản tiền vay ngày 12/5/2020 của bà Thanh. Bị cáo cho rằng bà Thanh là người giằng lấy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bị cáo mở két sắt lấy tiền trả tiền lãi. Việc viết giấy vay tiền đặt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do bà Thanh ép buộc phải viết giấy. Bị cáo thừa nhận không trình báo cơ quan nào sau bà Thanh giằng hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ép viết giấy vay tiền của chị Thu.
Bị cáo cho rằng xuất phát từ khoản vay 500.000.000 đ của bà Thanh để cho bà Lan Anh vay, vay lãi của bà Thanh nhưng cho bà Lan Anh vay không lãi. Từ đó bà Thanh ép viết giấy vay của bà Thanh 500.000.000 đ, viết giấy vay cho bà Hoa 500.000.000 đ, viết giấy vay của chị Thu 960.000.000 đ.
Tại phần tranh luận bị cáo cho rằng:
- - Khi nào cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh được việc bị cáo là người đặt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền thì bị cáo mới phải chịu trách nhiệm.
- - Nếu bị cáo có ý định lừa đảo thì bị cáo không thể đặt giấy giả cùng số seri với giấy chứng nhận của thửa đất 139.
- - Nếu bị cáo định lừa đảo thì bị cáo không tự viết vào phần đăng ký và xóa thế chấp mà sẽ phải nhờ người khác viết.
Người bào chữa cho bị cáo cho rằng: Giao dịch của bị cáo với bà Thanh là giao dịch dân sự. Bị cáo không giao dịch với chị Thu, khoản tiền ghi trong giấy vay tiền là không có thật. Công văn 409 của CQCSĐT đã xác định bị cáo không phạm tội lừa đảo. Chứng minh cho quan điểm của mình Luật sư cho rằng không thể trong cùng ngày 21/5/2020 lại viết hai giấy vay nợ của một người. Ngoài ra còn cho rằng ngày 31/5/2020 bà Thanh vẫn nhắn tin cho bị cáo là mang giấy đến (được hiểu là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) như vậy là ngày 21/5/2020 vẫn chưa giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thanh hoặc chị Thu.
Tại phiên tòa phúc thẩm người bảo vệ quyền lợi cho chị Thu cho rằng: 02 giấy vay nhận nợ ngày 21/5/2020 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả là chứng cứ trực tiếp có giá trị chứng minh. Đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra truy tố, xét xử Nguyễn Dung Hòa về ba tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức"; "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do bỏ lọt tội phạm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ nêu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật hình sự. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 24/5/2024 của Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ để điều tra, truy tố lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan làm trong hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bị cáo được nhận kháng cáo đúng thời hạn.
[2] Xét kháng cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyễn Dung Hoà có quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất:
Thửa thứ nhất có số bên ngoài bìa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là CH951848 đối với thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400m² đất ở.
Thửa thứ hai có số bên ngoài bìa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là CH951847 đối với thửa đất số 139, tờ bản đồ 21, diện tích 506,9m² đất trồng cây hàng năm.
Cả 02 thửa đất này đều thuộc khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và đều mang tên Nguyễn Dung Hoà.
Ngày 21 tháng 01 năm 2020, Nguyễn Dung Hoà đã chuyển nhượng cho anh Vũ Anh Tuấn, ở xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thửa đất số số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400,0m² đất ở. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc do anh Vũ Anh Tuấn giữ.
Khoảng đầu tháng 02/2020, tại khu vực Vincom thuộc phường Hùng Vương, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Hòa đã thực hiện hành vi cung cấp thông tin và thỏa thuận với người khác để làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH951847 mang tên Nguyễn Dung Hoà, thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, diện tích 400m², địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ với giá là 2.000.0000 đồng, sau đó bị cáo Hòa sử dụng bút trực tiếp viết vào “Mục IV. Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận” của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả.
Khoảng 09 giờ sáng ngày 21/5/2020, khi chị Thu cùng mẹ đẻ là bà Thanh, đang ở nhà tại số 68, Bạch Đằng, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, thì bị cáo Nguyễn Dung Hoà đến hỏi vay bà Thanh 700.000.000 đồng (bị cáo Hòa có mối quan hệ quen biết từ trước với bà Thanh). Do bà Thanh không có tiền nên bảo bị cáo Hòa hỏi vay chị Thu. Chị Thu đồng ý cho bị cáo Hòa vay 700.000.000 đồng. Hòa viết giấy biên nhận có nội dung như sau: “Tên tôi là Nguyễn Dung Hòa- khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. SCMT [...] - 20/05/1994....Hôm nay ngày 21/05/2020 tôi có vay của chị Vũ Thị Kiều Thu .....số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu đồng chẵn) có để lại hai bìa đỏ làm tin.
1/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Dung Hoà SN 20/05/1994, thửa đất số 139, tờ bản đồ 21, địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, diện tích 506,9m².
2/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Dung Hoà SN 20/05/1994, thửa đất số 375, tờ bản đồ 21, địa chỉ khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ diện tích 400m² (bốn trăm mét vuông đất nhà ở). Tôi hẹn sau một tháng sẽ hoàn trả số tiền mượn trên đúng hẹn. Nếu sau một tháng tôi không hoàn trả được số tiền trên tôi với chị Thu đi ra phòng công chứng nhà nước Việt Nam để làm chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật. Tôi cam đoan 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản riêng của cá nhân tôi không có tranh chấp. Tôi xin cam kết tôi chỉ có duy nhất hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là thật, tôi đã để làm tin cho chị Thu, ngoài ra không còn giấy chứng nhận nào khác để tránh báo mất để làm lại. Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật và chị Thu ...”.
Buổi chiều, khoảng 13 giờ ngày 21/5/2020 Nguyễn Dung Hoà vay thêm chị Thu số tiền 260.000.000 đồng và viết giấy biên nhận có nội dung như sau: “Tên tôi là Nguyễn Dung Hòa- khu 11, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay ngày 21/05/2020 tôi có vay thêm 260.000.000 (hai trăm sáu mươi triệu đồng) của chị Vũ Thị Kiều Thu (quận Hai Bà Trưng- Hà Nội). Số tiền lấy thêm đặt bìa đỏ làm tin trước là 700.000.000đ (bảy trăm triệu)....Tổng tôi vay là chín trăm sáu mươi triệu đồng chẵn (960.000.000₫)...".
Quá trình tố giác tội phạm của bà Thanh và chị Thu đã xuất trình hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cho là do Nguyễn Dung Hòa đưa để bảo đảm niềm tin cho việc vay tiền.
Nguyễn Dung Hòa cho rằng: Ngày 12/05/2020, do có quen biết với bà Nguyễn Thị Kim Thanh nên bị cáo vay của bà Thanh ở số nhà 68, phố Bạch Đằng, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 500.000.000 đồng. Khi vay tiền chỉ viết giấy vay tiền, không thế chấp bất kỳ đồ vật, tài sản gì, thỏa thuận lãi suất 10.000 đồng/ triệu/ngày. Trong 02 ngày 19 và 21/5/2020, bị cáo chuyển 80.000.000 đồng tiền lãi cho bà Thanh vào tài khoản 42210003336666, ngân hàng BIDV, chủ tài khoản là Nguyễn Thị Hồng Hạnh (bà Thanh yêu cầu bị cáo chuyển tiền vào tài khoản này). Ngoài ra, bị cáo còn trả 100.000.000 đồng tiền mặt cho bà Thanh nhưng không có giấy tờ gì. Sau đó khoản 02 tháng, do khó khăn, bị cáo không trả được tiền lãi cho bà Thanh nên bà Thanh đã đến nhà của bị cáo để đòi nợ. Tại nhà bị cáo, khi bị cáo mở két sắt để lấy tiền trả cho bà Thanh, thì bà Thanh nhìn thấy bị cáo có 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 139 và 375, trong đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 375 là giả nên bà Thanh lấy luôn. Có được 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị cáo, bà Thanh yêu cầu bị cáo viết lại 02 giấy vay tiền với nội dung như bị cáo đã trình bày. Mục đích bị cáo làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả là do bị cáo đã dùng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 375 để thế chấp vay tiền của anh Vũ Anh Tuấn, sau đó do lo sợ gia đình phát hiện nên đầu tháng 02/2020, bị cáo đã nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH951848 của thửa đất 375 với mục đích nếu gia đình hỏi đến 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị cáo sẽ đưa ra cho gia đình xem. Bị cáo khẳng định không vay tiền của chị Thu, không viết giấy nhận nợ ngày 21/5/2020 và không dùng 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 375 và 139 để thế chấp (làm tin). Ngoài vay bà Thanh 500.000.000 đồng bị cáo không vay bà Thanh bất kỳ khoản tiền nào khác. Tuy nhiên, do bị bà Thanh ép, đọc cho viết nên bị cáo đã viết giấy vay chị Thu 960.000.000 đồng nhưng bị cáo đồng ý thừa nhận khoản tiền nợ này.
Mặc dù bị cáo không khai nhận hành vi dùng hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin cho chị Thu và bị cáo khai rằng 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật của thửa số 139, tò bản đồ 21 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của thửa số 375, tờ bản đồ 21) bị cáo để trong két sắt, khi bà Thanh đến nhà bị cáo đòi tiền, bị cáo mở két sắt lấy tiền trả cho bà Thanh thì bà Thanh nhìn thấy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như trên) nên bà Thanh lấy luôn; có được 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị cáo, bà Thanh ép bị cáo viết lại 02 giấy biên nhận vay tiền. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo, bị cáo không đưa ra được chứng cứ chứng minh mình bị ép buộc viết giấy biên nhận nợ ngày 21/5/2020. Mặt khác, trong quá trình Toà án huyện Phù Ninh giải quyết vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản do chị Vũ Thị Kiều Thu khởi kiện đòi bị cáo 960.000.000 đồng, bị cáo Hoà khai, bị cáo từ nhà bà Thanh về nhà lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 139 để đưa cho bà Thanh (Bút lục 145; 147) và hiện tại chị Thu vẫn đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Ngoài ra bị cáo còn khai: Không biết chị Thu lấy 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 375 ở đâu (BL 401, 404, 406). Như vậy lời khai của bị cáo khác nhau về việc bà Thanh (hoặc chị Thu) có được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, nội dung trong 02 giấy biên nhận vay tiền do bị cáo viết thể hiện logic với toàn bộ nội dung sự việc là chứng cứ trực tiếp, có giá trị chứng minh.
Bị cáo cho rằng tất cả các khoản tiền đều xuất phát từ khoản vay 500.000.000₫ của bà Thanh (vay lãi) để cho bà Lan Anh (vay không lãi - bà Lan Anh là chị gái bà Thanh). Từ đó bà Thanh ép viết giấy vay của bà Thanh 500.000.000đ, viết giấy vay cho bà Hoa 500.000.000đ, viết giấy vay của chị Thu 960.000.000đ. Nhưng HĐXX thấy rằng: Bản án số 16/2022/DS-ST ngày 17/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã có hiệu lực pháp luật, xác định bị cáo có nhiều khoản vay của bà Hoa. Nên các lời khai của bị cáo không đáng tin cậy.
Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng không thể trong cùng ngày 21/5/2020 lại viết hai giấy vay nợ của một người. Ngoài ra còn cho rằng ngày 31/5/2020 bà Thanh vẫn nhắn tin cho bị cáo là mang giấy đến (được hiểu là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) như vậy là ngày 21/5/2020 vẫn chưa giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thanh hoặc chị Thu. Quan điểm trên không có cơ sở vì lẽ không có quy định cấm việc vay nhận nợ hai lần trong một ngày. Quan điểm ngày 31/5/2020 bà Thanh vẫn nhắn tin cho bị cáo là mang giấy đến, nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
Như vậy đủ cơ sở khẳng định:
Lúc đầu vì muốn gia đình không biết bị cáo đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên bị cáo đã lên mạng tìm người làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau đó vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã có hành vi gian dối dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để làm cho bị hại tin tưởng giao cho bị cáo vay tài sản là số tiền 960.000.000 đồng, bị hại đã giao tiền cho bị cáo. Hành vi này của bị cáo là dấu hiệu cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Cấp sơ thẩm xét xử và tuyên phạt bị cáo về tội danh “Làm giả tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là không có căn cứ, bởi lẽ bị cáo không phải là người trực tiếp làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ cung cấp thông tin để người khác làm giả theo yêu cầu của bị cáo. Khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, bị cáo Hoà chỉ viết vào “Mục IV. Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận” của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để người khác tin đó là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật vì có nội dung thể hiện là đã có giao dịch. Nên hành vi đặt mua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của bị cáo Hoà không phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” mà phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Mặt khác, bị cáo Hoà đã sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đặt để làm tin để vay số tiền 960.000.000₫ của chị Vũ Thị Kiều Thu. Hành vi này của bị cáo Hoà có dấu hiệu của tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Cấp sơ thẩm xử lý bị cáo Hoà về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là không đúng với hành vi phạm tội của bị cáo và không xem xét hành vi của bị cáo Hoà sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 960.000.000 đồng của chị Vũ Thị Kiều Thu là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, truy tố xét xử sai tội danh và có dấu hiệu bỏ lọt tội nên hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên bị cáo và người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; Điểm a khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 24/5/2024 của Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ để điều tra truy tố lại.
[2] Giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ để giải quyết theo thẩm quyền.
[3] Về án phí: Bị cáo và người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Vũ |
|
CÁC THẨM PHÁN Phạm Văn Toàn |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Vũ |
Bản án số 61/2024/HS-PT ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 61/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Dung H - Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
