|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 61/2024/DS-ST Ngày: 28/8/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình
Ông Trần Đức Hiếu
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Nguyên Khang - Thư ký, Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 208/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐST-DS ngày 29/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 126/2024/QĐHPT-DS ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ: 4 P, phường V, TP ., tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn T, chức vụ: chuyên viên xử lý nợ thẻ và TCVM (theo quyết định ủy quyền số 390/QĐ-NHKL ngày 30/01/2024 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP K. Ông T có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm N, sinh năm 1982; Địa chỉ: E N, tổ A, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Trong đơn khởi kiện ghi ngày 03/5/2024 của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP K và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ngày 05/7/2017 bà Nguyễn Thị Diễm N có ký kết với Ngân hàng TMCP K (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 và bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín tụng quốc tế K1 của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).
Căn cứ vào hợp đồng và thu nhập của bà N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà N với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng. Mục đích sử dụng tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 22%/năm và được Ngân hàng điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng nhà nước về lãi suất cho vay. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà N đã thực hiện nhiều giao dịch với tổng số tiền là 240.836.000 đồng. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 10/8/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Thị Diễm N không có thiện chí trả nợ. Dư nợ tính đến ngày tính đến ngày 10/11/2023 của bà N là 19.976.527 đồng và nợ lãi 20.135.419 đồng và P phát sinh là 51.360.838.
Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ cần phải thanh toán tối thiểu, tuy nhiên bà N không hợp tác và chưa thanh toán khoản nợ thẻ tín dụng quá hạn cho Ngân hàng, không có thiện chí trả nợ, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để thu hồi nợ.
Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể buộc bà Nguyễn Thị Diễm N phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 28/8/2024, bà N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 103.458.399 đồng (bao gồm dư nợ gốc và lãi quá hạn và phí) đồng thời yêu cầu bà Nguyễn Thị Diễm N phải tiếp tục chịu lãi từ ngày 29/8/2024 cho đến khi thanh toán dứt điểm toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết. Bà N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Diễm N: mặc dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù bà N đã nhận toàn bộ văn bản tống đạt của Tòa án nhưng bà N không tham gia tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không đến Tòa án để làm việc, vắng mặt không có lý do và không văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Việc Ngân hàng TMCP K ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 với bà Nguyễn Thị Diễm N, cấp cho bà N sử dụng thẻ tín dụng như một hình thức cho vay là hoạt động cấp tín dụng theo quy định tại Điều 3 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị Diễm N phải trả số tiền còn nợ phát sinh từ giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà hai bên đã ký kết ngày 05/7/2027, mục đích là vay tiêu dùng. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Diễm N có nơi cư trú trên địa bàn phường H, quận C, thành phố Đà nẵng nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa Ngân hàng TMCP K với bà Nguyễn Thị Diễm N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Thị Diễm N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng có đơn xin vắng mặt, thể hiện bị đơn đã từ bỏ quyền và không chấp hành nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Diễm N
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản tiền dư nợ 103.458.399 đồng (bao gồm dư nợ gốc và lãi quá hạn và phí) tính đến ngày 28/8/2024:
Ngày 05/7/2017 giữa bà Nguyễn Thị Diễm N và Ngân hàng có ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế để sử dụng thẻ tín dụng như một hình thức vay với số tiền hạn mức 20.000.000 đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự. Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với Điều 117 Bộ luật Dân sự và các Điều 23, 27 và 28 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch. Các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình như Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín tụng của Ngân hàng là phù hợp với các quy định về phát hành và sử dụng thẻ tại Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước, đây là cơ sở để xác định bà N có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP K
Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi các bên ký kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã thực hiện việc cấp tín dụng để bà N sử dụng thẻ hạn mức 20.000.000 đồng cho mục đích tiêu dùng. Hai bên không có thắc mắc, khiếu nại gì về các nội dung và điều khoản của Hợp đồng cũng như việc sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán, tiêu dùng. Bà N đã nhận thẻ và đã thực hiện nhiều giao dịch thanh toán, rút tiền vay tiêu dùng đồng thời cũng đã thanh toán cho Ngân hàng trong suốt quá trình giao dịch, sử dụng thẻ từ tháng 07/2017 đến tháng 8/2019 đối với các khoản tiền giao dịch phát sinh dư nợ thẻ nhưng sau đó đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình, vi phạm hợp đồng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc ông H phải trả khoản tiền dư nợ thẻ và toàn bộ lãi, phí phát sinh là có căn cứ và đúng pháp luật nên cần chấp nhận.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nộp bản tự khai và trình bày yêu cầu buộc bà N thanh toán cho Ngân hàng tính đến ngày 28/8/2024 tổng số tiền còn nợ là 103.458.399 đồng (bao gồm dư nợ gốc là 19.976.527 đồng, lãi phát sinh 24.651.034 đồng, phí phát sinh 58.830.838 đồng) và phải tiếp tục chịu lãi kể từ ngày 29/8/2024 cho đến khi thanh toán xong. HĐXX xét thấy: Sau khi được cấp thẻ tín dụng bị đơn Nguyễn Thị Diễm N đã sử dụng thẻ tín dụng để giao dịch mua hàng, thanh toán trực tuyến và rút tiền vay tiêu dùng với dư nợ là 19.976.527 đồng. Bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Từ tháng 08/2019 đến khi Ngân hàng khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm thỏa thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín tụng đã ký kết với Ngân hàng vào ngày 05/7/2017. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với bà N là có cơ sở và phù hợp với các điều khoản trong Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín tụng đã ký kết với Ngân hàng vào ngày 05/7/2017 và bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cũng như phù hợp với quy định tại Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Diễm N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5% x 103.458.399 đồng = 5.172.919 đồng, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.286.820 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên;
Căn cứ các Điều 26; 35; 39; 147; 227; 228; 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
Các Điều 13, 18, 23, 27 và 28 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
- Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T1 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" đối với bà Nguyễn Thị Diễm N
2. Buộc bà Nguyễn Thị Diễm N phải trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền 103.458.399 đồng (bao gồm dư nợ gốc là 19.976.527 đồng, lãi phát sinh 24.651.034 đồng, phí phát sinh 58.830.838 đồng) tính đến ngày 28/8/2024
Kể từ ngày 29/8/2024 bà Nguyễn Thị Diễm N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền dư nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong tất cả khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Diễm N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.172.919 đồng (năm triệu, một trăm bảy mươi hai ngàn, chín trăm mười chín đồng)
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.286.820 đồng theo biên lai thu số 0001575 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28/8/2024
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bàng |
Bản án số 61/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 61/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Kien Long tranh chấp hợp đồng tín dụng với Nguyễn Thị Diễm Ng
