|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HS-ST
Ngày: 28-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Văn
Các Hội thẩm nhân dân:
-
Ông Nguyễn Văn Ninh
-
Bà Trần Thị Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Đoàn V, tên gọi khác: B; sinh năm 1996, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đoàn Đ và bà Lê Thị Hồng L; vợ: Nguyễn Thị D, con: có 02 người; tiền án: Bản án số 180/2020/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 21/9/2021; tiền sự: Quyết định xử phạt hành chính số 589/QĐ-XPHC ngày 26/8/2022 của Công an huyện G xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích; bị cáo bị tạm giữ ngày 14/12/2023, đến ngày 23/12/2023 bị tạm giam cho đến nay.
-
Dương Quốc C, tên gọi khác: không có; sinh năm 2004, tại tỉnh Long An; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Thanh S (đã chết) và bà Trần Thị Ngọc T; vợ, con: không có; tiền án: không có (phạm tội tại thời điểm chưa đủ 18 tuổi), tiền sự: không có; bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/4/2024 cho đến nay.
-
Phạm Văn T1, tên gọi khác: Không có; sinh năm 1997, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1; vợ: Lê Thị Cẩm T2 (chung sống như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn), con: có 01 người; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo V, C, T1, chị T có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đoàn V là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng nên vào khoảng giữa tháng 8/2023, V đi đến khu vực thị trấn B, huyện B mua ma túy của người tên H không rõ lý lịch với số tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 mang về nhà phân ra thành nhiều bịch nhỏ cất giấu để sử dụng và bán cho người nghiện. Khoảng 07 ngày Viên mua 01 lần, lần mua gần nhất là vào ngày 11/12/2023 với số tiền 1.500.000 đồng. Khi người nghiện có nhu cầu mua ma túy thì liên lạc vào số điện thoại 0375.675.xxx, 0818198052, ứng dụng Zalo có nickname “Kayken” và ứng dụng M có N2 “Bin Blay” của V để thỏa thuận việc mua bán ma túy và địa điểm giao nhận ma túy. Viên yêu cầu người mua ma túy chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S1 số [...] hoặc tài khoản momo số 0375675535 của V, rồi V trực tiếp đến điểm hẹn để giao ma túy. Nếu ai không chuyển khoản thì V nhận tiền mặt trực tiếp. Viên một mình hoạt động mua bán ma túy được khoảng 02 tuần thì V rủ Dương Quốc C, sinh năm 2004, ngụ ấp C, xã C, huyện G (là người thường mua ma túy của V) phụ giúp V đi giao ma túy, V cho ma túy sử dụng và cho tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng để tiêu xài thì C đồng ý. Khi người mua ma túy liên hệ Viên thì V trực tiếp thỏa thuận việc mua bán ma túy và hẹn địa điểm rồi đưa ma túy cho C đi giao và nhận tiền về đưa lại cho V. Khi người mua ma túy liên hệ với C thì C trực tiếp thỏa thuận việc mua bán ma túy rồi nói lại cho V biết. Sau đó, V đưa ma túy cho C đi giao và nhận tiền về đưa lại cho V. Khi người mua ma túy chuyển khoản tiền mua ma túy cho C thì C sẽ chuyển khoản lại cho V.
Đến khoảng tháng 10/2023, C xảy ra mâu thuẫn đánh nhau với Võ Minh H1, sinh năm 1996, ngụ ấp C, xã C, huyện G (là người mua ma túy của V) và bị Công an mời làm việc, C sợ bị phát hiện nên không tiếp tục phụ giúp V đi giao ma túy. Sau đó, V rủ Phạm Văn T1, sinh năm 1997, ngụ khu phố A, thị trấn B, huyện B (là người thường mua ma túy của V) phụ giúp V đi giao ma túy, V cho ma túy sử dụng và cho tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng để tiêu xài thì T1 đồng ý. Khi người mua ma túy liên hệ Viên thì V trực tiếp thỏa thuận việc mua bán ma túy, nhận tiền và hẹn địa điểm giao ma túy rồi đưa ma túy cho T1 đi giao cho người mua. Viên cùng C và T1 nhiều lần bán ma túy cho người nghiện, cụ thể như sau:
Bán ma túy cho Đỗ Trường Mộng L1, sinh năm 2002, ngụ ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh, 22 lần, mỗi lần với số tiền từ 120.000 đồng đến 350.000 đồng, L1 chuyển khoản tiền mua ma túy vào tài khoản momo của V. Trong đó: Viên trực tiếp giao ma túy 11 lần, lần giao gần nhất là vào ngày 30/11/2023 với số tiền 200.000 đồng tại nhà của L1; C trực tiếp giao ma túy cho L1 11 lần, lần giao gần nhất vào ngày 12/9/2023 với số tiền 150.000 đồng tại nhà của L1.
Bán ma túy cho Lê Văn T3, sinh năm 2001, ngụ ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, 03 lần vào các ngày 05, 06 và 12/12/2023, mỗi lần với số tiền từ 300.000 đồng đến 600.000 đồng, T3 chuyển khoản tiền mua ma túy vào tài khoản ngân hàng của V, lần gần nhất là vào ngày 12/12/2023, với số tiền 300.000 đồng. Trong đó: Viên trực tiếp đi giao ma túy 02 lần vào các ngày 05 và 12/12/2023 tại nhà máy X lúa của V, T1 trực tiếp giao ma túy vào ngày 06/12/2023 tại khu vực thánh thất gần chợ C1.
Bán ma túy cho Trần Văn L2, sinh năm 2004, ngụ ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh, 02 lần, mỗi lần với số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất là vào ngày 10/12/2023, V trực tiếp đi giao ma túy tại nghĩa địa L thuộc xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Bán ma túy cho Võ Minh H1, sinh năm 1996, ngụ ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh, 20 lần, mỗi lần với số tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, lần gần nhất là vào ngày 10/12/2023, với số tiền 200.000 đồng tại hông nhà V. Trong đó: Viên trực tiếp giao ma túy 14 lần; C trực tiếp giao ma túy cho H1 03 lần, mỗi lần với số tiền 200.000 đồng, lần giao gần nhất cách ngày 14/12/2023 khoảng 02 tháng tại nhà H1; T1 trực tiếp giao ma túy cho H1 03 lần, lần giao gần nhất cách ngày 14/12/2023 khoảng 20 ngày tại nhà H1.
Bán ma túy cho Vương Minh Cao T4, sinh năm 1994, ngụ ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh, 10 lần, mỗi lần với số tiền từ 150.000 đồng đến 800.000 đồng, T4 chuyển khoản tiền mua ma túy vào tài khoản ngân hàng của V. Trong đó: Viên trực tiếp giao ma túy 07 lần, lần giao gần nhất là vào ngày 13/12/2023 với số tiền 300.000 đồng tại nhà của V; Tiển trực tiếp giao ma túy cho T4 01 lần vào ngày 09/12/2023 với số tiền 800.000 đồng tại dãy phân cách cố định trên Quốc lộ B trước nhà T4. C trực tiếp giao ma túy cho T4 02 lần tại nhà T4.
Bán ma túy cho Trần Tấn P, sinh năm 1993, ngụ ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, 10 lần, mỗi lần với số tiền từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng. Trong đó: Viên trực tiếp giao ma túy 04 lần tại khu vực nghĩa địa Láng Cát và đường bê tông bên hông nhà V; C trực tiếp giao ma túy cho P 04 lần, mỗi lần với số tiền 200.000 đồng, lần giao gần nhất cách ngày 14/12/2023 khoảng 02 tháng tại trước nhà Đỗ Trường Mộng L1; Tiển trực tiếp giao ma túy cho P 02 lần, mỗi lần với số tiền 200.000 đồng, lần giao gần nhất cách ngày 14/12/2023 khoảng 01 tháng tại trước nhà Đỗ Trường Mộng L1.
Bán ma túy cho Nguyễn Trung N3, sinh năm 1993, ngụ ấp Đ, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, 20 lần, mỗi lần với số tiền từ 300.000 đồng đến 800.000 đồng. Trong đó: Tiển trực tiếp giao ma túy cho N3 03 lần, mỗi lần với số tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất cách ngày 14/12/2024 khoảng 01 tháng giao tại khu vực nghĩa trang T7; Lần thứ hai vào ngày 06/12/2023, T1 cùng V đi giao ma túy cho N3 tại khu vực nhà máy X lúa của nhà V; Lần thứ ba vào ngày 11/12/2023, Tiển trực tiếp giao ma túy cho N3 tại đường bê tông cặp hông nhà V. C trực tiếp giao ma túy cho N3 03 lần, mỗi lần với số tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, cụ thể: 02 lần trực tiếp giao tại khu vực hội chợ gần ngã tư B thuộc xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh và 01 lần đi cùng V giao tại nhà của N3.
Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 14/12/2023, V xem điện thoại thì thấy tin nhắn zalo “Nhân Sxe” của N3 nhắn vào zalo “Kayken” của V hỏi mua 500.000 đồng ma túy thì V đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại nhà V. Sau đó, N3 sử dụng tài khoản ngân hàng M1 chuyển 500.000 đồng tiền mua ma túy vào tài khoản ngân hàng S1 số [...] của V, rồi điều khiển xe mô tô biển số 70F1-578.69 chở Đỗ Anh T5, sinh năm 2008, ngụ ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh, là bạn gái của N3 đến đường hẻm bê tông bên hông nhà V để nhận ma túy. Lúc này, V ném bịch ma túy qua hàng rào xuống đường bê tông, rồi N3 nhặt lấy bịch ma túy và đi về thì bị Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang, thu giữ trên người N3 01 bịch nylon màu trắng hàn kín 03 đầu, 01 đầu khóa bóp có viền màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); T bên trong túi quần phía sau bên phải của V 01 bịch nylon màu trắng hàn kín 03 đầu, 01 đầu khóa bóp có viền màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) dùng để bán cho người khác, cùng một số vật chứng có liên quan.
Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh, tiến hành khám xét nhà của V: T một số vật chứng có liên quan đến việc mua bán ma túy.
Quá trình điều tra, V, C và T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Tự thú khai nhận những lần bán ma túy trước đó. Viên được tặng giấy khen đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự. Viên đã bị kết án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm.
Kết luận giám định số 1998/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T như sau: Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0224 gam; Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1479 gam.
Kết quả test nhanh chất ma túy đối với V, C, N3, T3, L2, H1, T4 và L1 vào ngày 14/12/2023 thể hiện: Dương tính (Có sử dụng trái phép chất ma túy). Riêng T5 và Phúc âm t.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bảng thống kê vật chứng kèm theo.
Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện V, C và T1 không có sở hữu tài sản nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.
Cáo trạng số 58/CT-VKSGD ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Đoàn V, Dương Quốc C, Phạm Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đoàn V, Dương Quốc C, Phạm Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn V từ 09 đến 10 năm tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Quốc C từ 08 đến 09 năm tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 từ 07 đến 08 năm tù. Tổng hợp hình phạt theo quy định pháp luật.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
-
Về hành vi của các bị cáo thể hiện như sau: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Từ đầu tháng 8/2023 đến ngày 14/12/2023, trên địa bàn huyện G, Nguyễn Đoàn V mua ma túy đem về phân ra thành nhiều bịch nhỏ để bán trái phép cho người khác 88 lần, dưới sự giúp sức của Dương Quốc C và Phạm Văn T1 trong việc giao ma túy và nhận tiền, trong đó C giúp sức đi giao 23 lần, T1 giúp sức đi giao 10 lần. Đến khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 14/12/2023, V đang giao 500.000 đồng ma túy cho Nguyễn Trung N3 tại đường bê tông cặp hông nhà V thì bị bắt quả tang, thu giữ tổng khối lượng ma túy Methamphetamine là 0,1703 gam. Do đó, có đủ căn cứ kết luận, hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Phạm tội 02 lần trở lên” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và đời sống xã hội. Nên cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
-
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
-
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Đoàn V đã bị kết án, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
-
Tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo Nguyễn Đoàn V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khai ra những lần phạm tội trước đó; được khen thưởng trong quá trình tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Dương Quốc C, Phạm Văn T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khai ra những lần phạm tội trước đó nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
-
-
Hình phạt đối với các bị cáo: Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng khung hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Xét hành vi phạm tội của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo V là người rủ rê, phân công cho các bị cáo C, T6 thực hiện hành vi phạm tội do đó trong vụ án bị cáo V phải chịu mức án cao hơn so với các bị cáo khác. Bị cáo công giúp sức cho bị cáo V mua bán ma túy nhiều lần hơn so với bị cáo T1 nên phải chịu mức án cao hơn bị cáo T1. Bị cáo T1 giúp sức cho bị cáo V mua bán ma túy ít lần nhất nên chịu mức hình phạt thấp nhất. Đồng thời, tổng hợp hình phạt của bị cáo T1 theo quy định pháp luật.
-
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
-
Về các biện pháp tư pháp:
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Sonic màu đỏ trắng đen, biển số 70H1-459.06, số khung 1118KK241676, số máy KB11E1241170, dung tích 150 cm³ của chị Trần Thị Ngọc T cho bị cáo Công mượn nhưng chị T không biết bị cáo sử dụng vào mục đích mua bán ma túy nên cần trả lại cho chị T.
Đối với số tiền thu lợi bất chính là 11.750.000 đồng, bị cáo V có được từ việc mua bán ma túy và 01 (một) điện thoại di động hiệu Reamel màu xanh, dạng cảm ứng bị bể màn hình, số imei 1: 865474055841473, số imei 2: 86547405584146 có gắn sim 1 số 0375675535, sin 2 số 0818198052, đã qua sử dụng của bị cáo V dùng vào mục đích mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1998 (gói 2) có dấu đỏ của Phòng K công an tỉnh T, chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N4 và trợ lý Nguyễn Chí L3, mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,1065g (không phẩy một không sáu năm gram); 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng có vác nhọn một đầu; 01 (một) bật lửa màu xanh; 01 (một) cân điện tử màu đen và 20 (hai mươi) bịch nylon màu trắng hàn kín ba đầu một đầu khóa bóp viền màu xanh (bên trong rỗng) không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
-
Đối với đối tượng, hành vi có liên quan khác:
-
Đối với người tên H bán ma túy cho V do không rõ lý lịch nên không có căn cứ xử lý.
-
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của V, C, N3, T3, L2, H1, T4, L1 đã bị Công an huyện G xử phạt hành chính.
-
-
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đáp ứng được việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
Về án phí: Bị cáo V, C, T1 là người bị kết án nên phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đoàn V (B1), Dương Quốc C, Phạm Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn V 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 12 năm 2023.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Dương Quốc C 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 4 năm 2024.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Tổng hợp hình phạt theo quy định pháp luật.
-
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử lý vật chứng:
Trả cho chị Trần Thị Ngọc T 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Sonic màu đỏ trắng đen, biển số 70H1-459.06, số khung 1118KK241676, số máy KB11E1241170, dung tích 150 cm³.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 11.750.000 đồng của bị cáo V có được từ việc mua bán ma túy. Tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa tài khoản số 221/LPT-ĐCSMT ngày 21/5/2024 của Công an huyện G đối với tài khoản số [...] của bị cáo V mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần S2 – Chi nhánh tỉnh T – Phòng G để bảo đảm thi hành án.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Reamel màu xanh, dạng cảm ứng bị bể màn hình, số imei 1: 865474055841473, số imei 2: 86547405584146 có gắn sim 1 số 0375675535, sin 2 số 0818198052, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1998 (gói 2) có dấu đỏ của Phòng K công an tỉnh T, chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N4 và trợ lý Nguyễn Chí L3, mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,1065g (không phẩy một không sáu năm gram); 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng có vác nhọn một đầu; 01 (một) bật lửa màu xanh; 01 (một) cân điện tử màu đen và 20 (hai mươi) bịch nylon màu trắng hàn kín ba đầu một đầu khóa bóp viền màu xanh (bên trong rỗng).
-
Án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo V, C, T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Văn |
Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đoàn V CĐP bị xét xử tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
