Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-4-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Thuý Lan.
  2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 499/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, quyết định hoãn phiên toà số 45/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1967; thường trú: 229 T, khu phố T, phường T, thành phố D, Bình Dương. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; thường trú: 229 T, khu phố T, phường T, thành phố D, Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 12 năm 2023, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn ông Vũ Văn Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị T có thời gian tìm hiểu nhau khoảng vài tháng thì tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 1997 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống ở Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh một thời gian rồi mới về D mua đất xây nhà, sinh sống và làm việc ở D. Vợ chồng sống chung yên ổn được khoảng 20 năm, từ năm 2020 thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kể từ khi ông giao tài chính trong nhà cho vợ quản lý, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, hàng ngày đều mâu thuẫn. Bà T không còn lắng nghe, quan tâm gì đến ý kiến của ông mà tự mình quyết định mọi vấn đề, từ đó cuộc sống chung ngột ngạt, vợ chồng không có tiếng nói chung. Khoảng năm 2022 ông đã nộp đơn ly hôn ở Toà án, tuy nhiên sau đó ông rút đơn để hai bên tự thoả thuận với nhau về vấn đề tài sản, tài chính trong gia đình, Toà án đình chỉ giải quyết vụ án. Cho đến nay mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ông vẫn không giải quyết được, vợ chồng đã ly thân khoảng 02 năm nay, ông ở xưởng kế nhà chứ không sống chung với vợ con. Ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không có hạnh phúc nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với bà T.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung là Vũ Thị H, sinh ngày 05/02/1998, Vũ Thị Minh N, sinh ngày 09/08/2003, Vũ Minh T1, sinh ngày 27/07/2007, Vũ Minh Đ, sinh ngày 27/07/2007. Con chung là Vũ Thị H và con Vũ Thị Minh N đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn ông giao con chung là Vũ Minh T1 và Vũ Minh Đ cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng do hiện tại các con vẫn đang sống với bà T và do bà T trực tiếp chăm sóc. Ông sẽ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T: Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập bà T để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà T vắng mặt không có lý do. Bà T không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Q và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

- Biên bản xác minh ngày 12/3/2024 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D thể hiện: Hội liên hiệp phụ nữ phường T không nhận được đơn yêu cầu hòa giải cơ sở về quan hệ hôn nhân giữa ông Q và bà T. Đồng thời cũng không nhận được phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung của hai ông bà nên không rõ. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào ngày 17/4/2024, 26/4/2024 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Q và bà T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26/1997, ngày 29/3/1997 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ông Q xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng không thống nhất về tài chính trong gia đình dẫn đến thường xuyên cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Quá trình tố tụng, Tòa án mở phiên hòa giải để hòa giải quan hệ hôn nhân cho ông bà nhưng bà T vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của ông Q, ông Q có đơn từ chối hòa giải. Ông Q và bà T không đưa ra bất cứ phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, tiếp tục cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Năm 2022 ông Q nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, chia tài sản nhưng đã rút đơn, đến nay vợ chồng vẫn không thể hoà giải được mâu thuẫn nên ông Q tiếp tục nộp đơn ly hôn. Ông Q trình bày từ năm 2023 đến nay vợ chồng ly thân. Như vậy, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông Q và bà T đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu ly hôn của ông Q là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Ông Q khai vợ chồng có 04 con chung là Vũ Thị H, sinh ngày 05/02/1998, Vũ Thị Minh N, sinh ngày 09/08/2003, Vũ Minh T1, sinh ngày 27/07/2007, Vũ Minh Đ, sinh ngày 27/07/2007. Con chung là Vũ Thị H và Vũ Thị Minh N đã trưởng thành, Toà án không xem xét giải quyết. Tại đơn khởi kiện và tại phiên toà ông Q đề nghị giao cháu T1 và cháu Đ cho bà T nuôi dưỡng. Xét thấy, ông Q thừa nhận hiện cháu T1 và cháu Đ đang do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, việc tiếp tục giao các con chung cho bà T nuôi dưỡng đảm bảo sự phát triển ổn định của các con chung. Hơn nữa, quá trình tố tụng bà T không đưa ra ý kiến về vấn đề con chung cũng như không phản đối yêu cầu của ông Q về vấn đề con chung. Tại bản tự khai của cháu T1, cháu Đ không phản đối việc sống chung với mẹ là bà T. Do đó căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông Q về con chung.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình về trách nhiệm cấp dưỡng cho con của người cha, mẹ không trực tiếp nuôi con và phù hợp với chi phí nuôi con trung bình tại địa phương nên chấp nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[6] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Vũ Văn Q phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Văn Q được ly hôn với bà Nguyễn Thị T (Giấy chứng nhận kết hôn số 26/1997, ngày 29/3/1997 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp).
    • - Về con chung: Con chung là Vũ Thị H, sinh ngày 05/02/1998 và Vũ Thị Minh N, sinh ngày 09/08/2003 đã trưởng thành, Toà án không xem xét giải quyết. Ông Vũ Văn Q giao 02 con chung là Vũ Minh T1, sinh ngày 27/07/2007 và Vũ Minh Đ, sinh ngày 27/07/2007 cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Vũ Văn Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng. Việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

    Sau ly hôn, ông Vũ Văn Q và bà Nguyễn Thị T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

    Kể từ ngày bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Vũ Văn Q không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng ông Vũ Văn Q phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Vũ Văn Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Q đã nộp theo biên lai số 0001446 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Ông Vũ Văn Q còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí.
  3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - UBND xã Xuân Trường,
  • huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn Vũ Văn Q và bị đơn Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger