Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 61/2023/HS-ST

Ngày: 25/8/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đăng Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Cúc

Ông Trần Chí

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.

- Đại diện Viện kiểm sát dân thị xã N tham gia phiên tòa:

Ông Triệu Hoàng Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 01/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST-HS ngày 07/8/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1990 tại N, tỉnh Khánh Hòa.

Nơi cư trú: thôn Bình Trị, xã Ninh Bình, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới T: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tẩn, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1952; Vợ: Nguyễn Thị Thẩm Mỹ, sinh năm: 1991; có 02 con; Lớn sinh năm: 2012; Nhỏ sinh năm: 2016; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Quyết định số: 86a/2023HSST-QĐ ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, có mặt.

- Bị hại: Bà Hồ Thị Kim TR, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Thôn Bình Trị, xã Ninh Bình, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần NH, sinh năm: 1973, có mặt.
  2. Bà Hồ Thị Kim TR, sinh năm: 1977, có mặt.
  3. Ông Trần Ngọc V, sinh năm: 2000, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: thôn Bình Trị, xã Ninh Bình, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

- Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1952, có mặt.
  2. Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1992, có mặt.

Cùng địa chỉ: thôn Bình Trị, xã Ninh Bình, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 17 tháng 3 năm 2022 tại đường bê tông thuộc thôn Bình Trị, xã Ninh Bình, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, giữa bà Nguyễn Thị B và vợ chồng hàng xóm ông Trần NH, bà Hồ Thị Kim TR xảy ra mâu thuẫn, cãi vã về việc bà B dùng cái chén ném con chó nhà bà TR. Lúc này, con trai bà B là Nguyễn Ngọc M ở trong nhà đi ra cùng bà để tranh cãi với vợ chồng bà TR. Khi nhìn thấy bà TR xô xát với bà B thì M nghĩ rằng bà TR đánh mẹ mình là người già nên nảy sinh bực tức, M nhặt 01 cục đá xi măng cứng ở lề đường bê tông, kích thước khoảng (03x04)cm, ném thẳng về hướng bà TR ở khoảng cách 04m70 làm trúng sống mũi bà TR gây thương tích. Tiếp đó, con trai bà TR là Trần Ngọc V từ nhà cầm 01 cây rựa dài 80cm (cán tre dài 50cm, lưỡi kim loại dài 30cm) đi sang tìm chém M thì M chụp giữ được cây rựa, trong lúc giành giật ngón tay phải 1, 2 của M bị lưỡi rựa cứa rách da. Sau khi sự việc xảy ra, bà TR và M có đơn tố giác về tội phạm yêu cầu cơ quan Công an giải quyết.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 282/TgT-TTPY ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Khánh Hòa kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với bà Hồ Thị Kim TR là 13% (dấu hiệu chính qua giám định: 01 sẹo kích thước nhỏ vùng chính mũi, 01 sẹo kích thước nhỏ vùng cánh mũi trái, gãy xương chính mũi).

Tại Công văn số: 228/TTPY-KGĐ ngày 02/6/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế Khánh Hòa trả lời cơ chế hình thành vết thương đối với bà Hồ Thị Kim TR: Cơ chế ngoại lực tác động, vật gây thương tích là vật tày.

Tại bản Cáo trạng số: 59/CT-VKS-HS ngày 31/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trong vụ án này, Nguyễn Ngọc M bị thương tích ngón tay phải 1,2 do Trần Ngọc V gây ra. Tuy nhiên, giai đoạn điều tra M có đơn từ chối giám định tỷ lệ tổn thương của cơ thể và rút đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự đối với V nên không xem xét.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Ngọc M về tội danh trên. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, T từ ngày 25/8/2023.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại bà Hồ Thị Kim TR đã nhận số tiền 30.000.000 đồng của bị cáo và không yêu cầu nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Cơ quan có thẩm quyền đã truy tìm cục đá xi măng cứng do bị cáo M gây thương tích cho bị hại TR nhưng không có kết quả.

+ Tạm giữ 01 cây rựa dài 80cm (cán tre dài 50cm, lưỡi kim loại dài 30cm) hung khí trong vụ xô xát giữa V và M là hung khí vi phạm pháp luật nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng có nội dung như sau: “Bị cáo nhận thức được lỗi lầm xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo do vợ đang mang thai và nuôi con nhỏ”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc V vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ là có căn cứ.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung đã nêu ở trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 17 tháng 3 năm 2022 tại thôn Bình Trị, xã Ninh Bình, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Ngọc M đã có hành vi dùng cục đá xi măng cứng là hung khí nguy hiểm ném vào mặt bà Hồ Thị Kim TR gây thương tích cho với tỷ lệ tổn thương cơ thể 13% qua giám định.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc M là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe và T mạng của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm nào đúng, việc làm nào sai. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết được hành vi dùng cục đá xi măng cứng là hung khí nguy hiểm ném vào mặt bị hại TR có thể gây thương tích nhưng vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật, xem thường T mạng, sức khỏe của người khác. Hành vi của bị cáo M đã trực tiếp xâm phạm đến T mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 điều này) là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo M có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và bị hại cũng có lỗi; bị cáo có ông nội là liệt sĩ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 65 không cần thiết cách ly ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và thấy được sự khoan hồng của pháp luật, tự rèn luyện giáo dục bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật.

[5] Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[6] Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã N đang tạm giữ 01 cây rựa dài 80cm (cán tre dài 50cm, lưỡi kim loại dài 30cm) là hung khí vi phạm pháp luật trong vụ xô xát giữa V và M không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị hại TR đã nhận bồi thường thiệt hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ, khoản 2, Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều này); điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 106; Điều 260; Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 1, Điều 23 Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội: “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm T từ ngày 25/8/2023.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc M cho UBND xã Ninh Bình, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo, nếu thay đổi nơi cư trú thì được thi hành theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  1. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại bà Hồ Thị Kim TR và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét.
  2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa dài 80cm (cán tre dài 50cm, lưỡi kim loại dài 30cm) là hung khí trong vụ xô xát giữa V và M theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2023 giữa Công an thị xã N và Chi cục thi hành án thị xã N.
  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thị xã N;
  • - Công an thị xã N;
  • - Chi cục THA dân sự thị xã N;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu án văn; hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Đăng Thanh

Thành viên Hội đồng xét xử

Trần Thị Cúc – Trần Chí

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hữu Đăng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 61/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger