Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/DS-ST

Ngày: 25/7/2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng

sử dụng thẻ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Chí Tình.

2. Ông Kiên Ngọc Trương

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hồng Vân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng D, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22,25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-DS ngày 02/7/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P1 (H);

Địa chỉ: Số B Bis N, phường B, Quận A, TP ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T là Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lư Thành P, là Giám đốc H; Uỷ quyền lại cho ông Trần Đăng K tham gia tố tụng tại phiên toà (theo văn bản uỷ quyền ngày 16/01/2024), có mặt.

Địa chỉ: V, đường N, khóm C, phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

2. Bị đơn: Ông Đỗ Minh S, sinh năm 1962, vắng mặt;

Địa chỉ: Số E, khóm A, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Đăng K là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngày 28/11/2022, ông Đỗ Minh S có ký Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/Sản phẩm – Dịch vụ thẻ tín dụng số 01.HD-MB.01/SPCN.PTD với Ngân hàng TMCP P2 – Chi nhánh T1 (gọi tắt là Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Đỗ Minh S, Ngân hàng TMCP P2 – Chi nhánh T1 đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ ông Đỗ Minh S đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền vay gốc là 87.331.784 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông Đỗ Minh S đã thường xuyên thanh toán trễ hạn, không thực hiện trả nợ vay theo thỏa thuận với Ngân hàng. Từ ngày 20/4/2023 đến nay thì ông S không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đỗ Minh S vẫn không có thiện chí trả nợ, nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông S sang nợ quá hạn từ ngày 15/11/2023. Nay nguyên đơn yêu cầu ông Đỗ Minh S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P2 – Chi nhánh T1 tổng số tiền vay gốc và lãi tạm tính đến ngày 25/7/2024 là: 128.517.912 đồng (trong đó nợ gốc là 87.331.784 đồng, tiền lãi và phí phát sinh là 41.186.128 đồng) và yêu cầu ông S trả tiền lãi phát sinh tiếp theo với mức lãi suất thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi ông S trả hết nợ cho nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đỗ Minh S đều vắng mặt các lần triệu tập của Tòa án nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt. Bị đơn ông Đỗ Minh S có ký kết hợp đồng tín dụng là Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/Sản phẩm – Dịch vụ thẻ tín dụng số 01.HD-MB.01/SPCN.PTD ngày 28/11/2022 với nguyên đơn, hợp đồng được lập thành văn bản và ông Đỗ Minh S đã cung cấp địa chỉ cụ thể ghi trong hợp đồng là số 56, khóm A, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Hiện nay, ông S không có mặt tại địa chỉ ghi trong hợp đồng, nhưng ông S không thông báo với nguyên đơn về việc thay đổi địa chỉ nơi cư trú mới nên xem như ông S cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông S ghi trong hợp đồng là đúng quy định tại khoản 5 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Đỗ Minh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Căn cứ Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy: Ông Đỗ Minh S có giao kết với Ngân hàng TMCP P2 – Chi nhánh T1 Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/Sản phẩm – Dịch vụ thẻ tín dụng số 01.HD-MB.01/SPCN.PTD (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) ngày 28/11/2022. Căn cứ thu nhập của ông Đỗ Minh S, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Đỗ Minh S đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 87.331.784 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau. Nhận thấy các thỏa thuận trong hợp đồng không trái với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng tín dụng các bên giao kết là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ lãi, nợ gốc đúng hạn như thỏa thuận trong hợp đồng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở về việc yêu cầu ông S thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng đến nay nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện xong. Tính đến thời điểm tại phiên toà hôm nay, ông S cũng không có cung cấp cho Toà án thêm tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nhằm phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Minh S có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 25/7/2024 là: 128.517.912 đồng (trong đó nợ gốc là 87.331.784 đồng, tiền lãi và phí phát sinh là 41.186.128 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông S tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Xét các yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 292; 344; 345; 357; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án, không có nội dung trình bày ý kiến, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 177; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 292; 344; 345; 357; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P2 (H).

Buộc ông Đỗ Minh S có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P2 – chi nhánh T1 tổng số tiền vay gốc và lãi còn nợ của Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/Sản phẩm – Dịch vụ thẻ tín dụng số 01.HD-MB.01/SPCN.PTD ngày 28/11/2022 (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) tính đến ngày 25/7/2024 là: 128.517.912 đồng (bằng chữ: một trăm hai mươi tám triệu, năm trăm mười bảy ngàn, chín trăm mười hai đồng). Trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 87.331.784 đồng, tiền lãi và phí phát sinh là 41.186.128 đồng.

Kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Đỗ Minh S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng nêu trên các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Đỗ Minh S phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về án phí dân sự sơ thẩm là 6.425.895 đồng (sáu triệu, bốn trăm hai mươi lăm ngàn, tám trăm chín mươi lăm đồng): Buộc bị đơn ông Đỗ Minh S phải chịu toàn bộ số tiền án phí là 6.425.895 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 2.620.000 đồng (Hai triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng) theo lai thu số 0000084 ngày 15/01/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TV;
  • - VKSND TPTV;
  • - Chi cục THADSTPTV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 61/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger