Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:61/2024/DS-PT

Ngày 25-7-2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và tài sản trên đất; yêu cầu tuyên

hợp đồng tặng cho quyền sử dụng

đất và hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất vô hiệu”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hữu.
  • Các Thẩm phán: Ông K'Tiêng và ông Nguyễn Tài Sử.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trừ Minh Quốc, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Mừng – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất; yêu cầu tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”,

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2024/DS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo,

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Hà Thị L, sinh năm 1968; địa chỉ: TDP B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Hà Mạnh C, sinh năm 1975; địa chỉ: TDP B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Nguyễn Văn H, địa chỉ: Tổ B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông– có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Hà Thị L1 – có mặt và ông Nguyễn Văn L2 – Có đơn xin xét xử vắng mặt; cùng địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
    2. Chị Lê Thị Lan N – có mặt, địa chỉ: TDP C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
    3. Ông Phạm Xuân T và bà Nguyễn Thị Thu H1, cùng địa chỉ: TDP D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt;
    4. Ông Hà Thái H2 và bà Trần Thị D, cùng địa chỉ: TDP C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt;
    5. Bà Nguyễn Thị P, địa chỉ: TDP B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
    6. Ông Đỗ Duy P1; địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
    7. Chị Đỗ Hà M; địa chỉ: Số C Khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
    8. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đ; địa chỉ: TDP B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
    9. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh H3, chức vụ: Chánh Thanh tra Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đ (theo văn bản ủy quyền ngày 19-7-2019) - Có đơn xin xét xử vắng mặt;
    10. Ủy ban nhân dân tỉnh Đ; địa chỉ: TDP B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
    11. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Thanh H4; chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ (theo văn bản ủy quyền ngày 29-7-2019) - Có đơn xin xét xử vắng mặt;
    12. 10. Bà Nguyễn Thị T1, địa chỉ: TDP B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt;
  • - Người làm chứng:
    1. Ông Trịnh Mai H5; địa chỉ: TDP B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
    2. Bà Nguyễn Thị H6; địa chỉ: TDP E, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
    3. Bà Nguyễn Thị H7; địa chỉ: TDP C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
    4. 4.Thái Thị L3; địa chỉ: TDP D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
    5. 5. Bà Trần Thị H8; địa chỉ: TDP D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Những người làm chứng đều vắng mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Hà Mạnh C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị L1, chị Lê Thị Lan N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hà Thị L trình bày:

Bà và ông Hà Mạnh C, ông Hà Thái H2, bà Hà Thị H9, bà Hà Thị L1 là anh chị em ruột. Năm 1987, ông C và ông H2 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1, đồng thời khai hoang thêm được một thửa đất tọa lạc tại khối H, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk (cũ), nay là tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Năm 1998, ông C chuyển nhượng cho bà diện tích (05x60)m. Do không có tiền nên bà đổi khoảng 05 sào rẫy tọa lạc tại tổ dân phố E, phường N cho ông C. Năm 2004, bà làm một căn nhà ván trên phần diện tích đất này. Năm 2005, có thông tin Nhà nước thu hồi đất để làm trụ sở Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ nên ông C làm đơn xin xác nhận diện tích 2.025m² có nguồn gốc khai hoang năm 1987 (bao gồm cả phần diện tích đã chuyển nhượng cho bà) nhằm mục đích hưởng chính sách bồi thường, hỗ trợ của Nhà nước. Năm 2007, ông C nói bà đứng tên làm đơn kê khai xin xác nhận nguồn gốc thửa đất diện tích (05x60)m để nếu Nhà nước thu hồi đất sẽ được cấp đất tái định cư. Đến năm 2010, do Nhà nước không thu hồi đất nên bà tháo dỡ nhà ván để xây nhà cấp 4 và sử dụng ổn định cho đến nay.

Khoảng năm 2016, con gái bà là chị Lê Thị Lan N vay của bà H9 số tiền 400.000.000 đồng và không có khả năng trả nợ. Bà H9 yêu cầu bà chuyển nhượng thửa đất bà đang sử dụng để trả nợ thay cho chị N, còn dư tiền thì mua đất khác làm nhà ở nhưng bà không đồng ý nên ông C cùng bà H9, bà L1 và chị N tự ý làm các giấy tờ tặng cho, mua bán giả tạo nhằm lấy đất của bà, cụ thể: Ông C cho rằng ông C hứa cho chị N phần đất này từ năm 1993 nhưng do chị N còn nhỏ nên giao cho bà quản lý. Năm 2017, ông C viết “Giấy cho đất” diện tích 150m² nhưng đề ngày 01-01-1993. Ngày 10-6-2017, chị N viết giấy bán đất để chuyển nhượng cho bà L1 phần đất mà ông C đã tặng cho. Ngày 27-8-2017, bà L1 cho ông Phạm Văn T2 thuê 150m² để làm mặt bằng buôn bán, ông T2 đã dựng căn nhà vòm khung sắt diện tích khoảng 75m² trên phần trước của lô đất bà đang ở. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông C phải trả lại cho bà diện tích đất 75m² và tháo dỡ toàn bộ căn nhà khung sắt, mái lợp tôn xây dựng trên diện tích đất này.

Ngày 13-11-2018, bà khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án buộc ông C phải trả lại cho bà phần đất lấn chiếm có diện tích khoảng 283,7m²; buộc ông T2 phải tháo dỡ 01 nhà vòm diện tích 5mx13,85m; buộc ông H2 phải tháo dỡ 01 nhà trọ diện tích 5m x 9,8m; tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 01-01-1993 giữa ông C với chị N và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-6-2017 giữa chị N với bà L1 là vô hiệu.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 22-5-2020, bà đã rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông T2 tháo dỡ căn nhà vòm và buộc ông H2 phải tháo dỡ nhà trọ trên đất tranh chấp.

Ngày 16-3-2022, bà khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án buộc ông C phải trả lại cho bà phần đất lấn chiếm diện tích 295,2m².

Tại phiên toà phúc thẩm ngày 11-01-2023, bà H9 trình bày ngày 20-6-2005, bà H9 nhận chuyển nhượng 01 phần thửa đất trên của bà Liên từ ông Hà Mạnh C.

Nay bà yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông C trả bà diện tích đất theo kết quả đo đạc do các bên đương sự chỉ ranh đo là 289,9m². Trong đó, diện tích đất ông C lấy của bà viết giấy tay cho cháu N, cháu N chuyển nhượng cho bà L1 là 148,6m², ông C lấy đất của bà chuyển nhượng cho chị H9 là 141,3m² và buộc ông H2 phải di dời toàn bộ cát ông H2 đổ trên một phần diện tích đất trên.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hà Mạnh C và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Năm 1991, ông và ông H2 nhận chuyển nhượng của bà T1 01 thửa đất diện tích (42x75)m, tọa lạc tại khối H, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk (cũ), nay là tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Hai bên có lập giấy mua bán viết tay nhưng đã bị thất lạc.

Năm 1993, ông H2 chia cho ông (27x75)m; chia cho bà H9 (05x75)m, phần đất còn lại (10 x75)m là của ông H2.

Năm 1993, bà L vào Đắk Nông sống chung với ông, ông có hứa cho chị N là con gái bà L diện tích đất (05x30)m = 150m². Thời điểm này chị N còn nhỏ và đang ở quê nên ông giao đất cho bà L quản lý. Khoảng năm 2000, ông cùng anh em trong gia đình dựng cho bà L một căn nhà gỗ khoảng 24m², mái lợp tôn, tường xây lửng, thưng ván; bà L sử dụng nhà, đất ổn định, liên tục trong nhiều năm.

Năm 2005, Nhà nước có chủ trương giải tỏa khu đồi trùng tu. Để được cấp đất tái định cư, ông đã xin xác nhận nguồn gốc đất diện tích 2.025m² là do khai hoang năm 1987 (bao gồm cả diện tích đất cho chị N). Do chị N còn nhỏ nên ông đồng ý để bà L đứng tên kê khai nguồn gốc đất và tài sản trên đất. Ngày 29-6-2007, bà L kê khai diện tích đất sử dụng 350m², trên đất có 01 căn nhà xây lửng, mái lợp tôn, đơn được ông Dương Văn K xác nhận với nội dung “nguồn gốc đất là do khai phá cùng em trai là Hà Mạnh C, sinh hoạt, ăn ở cùng với em, không có nơi ở nào khác”. Ông đồng ý để L đứng tên kê khai vì bà L đang trực tiếp sử dụng đất và để sau này bà L được cấp đất tái định cư. Bà H9, bà L1, ông H2 có biết việc bà L sử dụng đất, làm nhà, làm đơn xin xác nhận đất nhưng không ai có ý kiến gì. Sau này do nhà cũ mục nát nên bà L xây lại nhà mới. Thửa đất ông hứa cho chị N hiện nay không giải tỏa nhưng ông vẫn giữ nguyên quyết định cho chị N.

Năm 2017, chị N vào Đắk Nông sinh sống và yêu cầu bà L trả lại đất nhưng bà L không đồng ý. Để giúp chị N lấy lại đất, khoảng đầu năm 2017 ông viết giấy tặng cho đất chị N nhưng đề ngày 01-01-1993, sau đó nhờ anh chị em trong gia đình là ông H2, bà L1, bà H9 ký làm chứng. Ngày 10-6-2017, chị N viết giấy tay chuyển nhượng diện tích đất này cho bà L1.

Thửa đất ông cho chị N diện tích 150m² có tứ cận: Phía Tây giáp đất chị H10, anh S (trước đây là đất của ông, sau đó ông cho bà H9, bà H9 chuyển nhượng cho chị H10, anh S); phía Nam là đường B; phía Bắc giáp đất còn lại của ông; phía Đông giáp đất ông H2. Hiện tại bà L đang sử dụng khoảng 70m² phía sau giáp đất của ông, trên đất có nhà xây cấp 04. Bà L1 đang quản lý khoảng 80m² phía trước giáp đường B, trước đây bà L1 cho ông T2 thuê mặt bằng để buôn bán, trên đất có khung nhà sắt, hiện ông T2 đã tháo dỡ. Diện tích còn lại phía sau khoảng (05x25)m = 125m² ông vẫn quản lý, năm 2015 ông cho ông H2 mượn để đổ vật liệu xây dựng và xây phòng trọ, hiện ông H2 đã tháo dỡ dãy phòng trọ.

Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L, đề nghị Tòa án không chấp nhận.

Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Bà Hà Thị L1: Ngày 10-6-2017, chị N chuyển nhượng cho bà diện tích đất (05x30)m =150m² với giá 400.000.000 đồng, trên đất có 01 nhà xây của bà L khoảng 60m². Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, bà chưa đăng ký kê khai, chưa trực tiếp sử dụng đất. Diện tích đất này là do ông C cho chị N vào năm 1993, khi đó chị N còn nhỏ nên ông C để bà L sử dụng cho đến khi chị N lớn thì giao lại cho chị N. Bà có ký làm chứng vào giấy cho đất. Việc mua bán đất là tiền riêng của bà, ông Nguyễn Văn L2 là chồng bà không biết và không liên quan. Ngày 27-8-2017, bà cho ông T2 thuê toàn bộ diện tích đất đã nhận chuyển nhượng của chị N. Ông T2 sử dụng khoảng 80m² và dựng mái vòm, khung sắt để buôn bán, hiện ông T2 đã tháo dỡ toàn bộ công trình này. Phần còn lại khoảng 70m² vẫn còn nhà và bà L đang sử dụng. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L. Ngày 24-11-2021, bà có đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với chị N.

- Chị Lê Thị Lan N: Đầu năm 2017, chị vào Đắk Nông sống cùng mẹ là bà L. Khoảng tháng 6-2017, ông C, bà H9, bà L1 và ông H2 bàn nhau mua đất, xây nhà nơi khác cho hai mẹ con chị, đồng thời thuyết phục bà L giao đất tranh chấp để họ làm ăn. Lúc đầu bà L đồng ý nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến nên phát sinh mâu thuẫn. Đầu năm 2017, ông C đưa cho chị giấy cho đất đề ngày 01-01-1993. Ngày 10-6-2017, ông C, bà H9, bà L1 và ông H2 hướng dẫn chị viết giấy bán đất cho bà L1. Trước khi phát sinh tranh chấp, chị không sử dụng đất nên không biết nguồn gốc, vị trí, tứ cận thửa đất. Khi chuyển nhượng, chị và bà L1 không cắm cọc, không bàn giao đất trên thực địa. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà L buộc ông C phải trả lại đất thì chị không có ý kiến gì. Ngày 17-11-2021, chị có yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 01-01-1993 giữa ông C với chị và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-6-2017 giữa chị với bà L1.

- Bà Hà Thị H9: Năm 1987, ông H2 và ông C nhận chuyển nhượng chung một lô đất tọa lạc tại khối H, thị trấn G, huyện Đ. Năm 2015, ông C cho chị N diện tích 150m², có viết giấy tờ tặng cho, các anh em trong gia đình ký làm chứng. Tại thời điểm cho đất, chị N còn nhỏ nên ông C để cho bà L làm nhà gỗ và đứng tên trong sơ đồ giải tỏa với mục đích sau này được cấp đất tái định cư. Năm 2017, chị N bàn với bà L bán đất này để lấy tiền mua đất khác làm nhà, số tiền còn lại sẽ đầu tư kinh doanh, ổn định cuộc sống. Sau đó chị N chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L1.Ngày 20/6/2015 ông C chuyển nhượng toàn bộ phần diện tích đất phía sau của bà L1 nhận chuyển nhượng của cháu N (giáp phần đất bà L đang ở và hiện đang tranh chấp)cho vợ chồng bà H9 (giáp phần đất bà L đang ở và hiện đang tranh chấp). Bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà và bà L1. Bà không có yêu cầu độc lập hay có yêu cầu gì đối với vụ án này. Sau khi Toà án xét xử, xét thấy quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì bà sẽ khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết thành vụ án khác.

- Ông Hà Thái H2: Ông thừa nhận có việc mua đất và khai hoang đất tổng diện tích (42x75)m = 3.150m² như ông C trình bày. Năm 1993, ông chia cho ông C (27x75)m = 2.025m², chia cho bà H9 (05x75)m = 375m², phần đất còn lại (10x75)m = 750m² là của ông. Khi nghe thông tin Nhà nước thu hồi đất, các anh chị em trong gia đình thống nhất cho mỗi người đứng tên kê khai một lô đất với mục đích sẽ được nhận nhiều đất tái định cư. Thửa đất tranh chấp là thửa đất bà L đứng tên kê khai tại đơn đề ngày 29-6-2007. Khoảng năm 2004, bà L dựng nhà gỗ, vách ván trên đất để ở, sau đó nhà bị mục nát nên bà L xây lại nhà như hiện tại. Quá trình bà L làm nhà và sử dụng đất không ai có ý kiến gì. Khi chị N trưởng thành, ông cùng ông C, bà H9, bà L1 bàn nhau cho chị N thửa đất mà bà L đang sử dụng. Ông C là người viết giấy cho đất, những người còn lại ký làm chứng. Ông có ký làm chứng tại giấy mua bán đất ngày 10-6-2017 giữa chị N và bà L1 nhưng nội dung thỏa thuận như thế nào ông không biết. Tại thời điểm viết giấy mua bán, trên đất vẫn có nhà xây mà bà L đang ở. Ông có ký vào giấy cho đất ghi năm 1993, mục đích để sau này chị N được cấp đất tái định cư; diện tích đất cho chị N nằm trong tổng diện tích ông C kê khai giải tỏa. Năm 2017, bà L đồng ý cho chị N bán đất cho bà L1. Chị N dùng tiền bán đất để mua lại đất của bà H9 và xây nhà mới cho hai mẹ con cùng ở. Tuy nhiên, bà L yêu cầu chị N phải đưa 200.000.000 đồng nhưng chị N không đưa nên bà L khởi kiện đòi lại đất. Ông có dựng 01 nhà trọ diện tích (05x9,8)m = 49m² trên đất tranh chấp nhưng hiện tại đã tháo dỡ. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, ông không có ý kiến gì.

- Bà Trần Thị D: Đồng ý với nội dung trình bày của ông H2 và không có yêu cầu gì.

- Bà Nguyễn Thị P: Đồng ý với nội dung trình bày của ông C và không có yêu cầu gì.

- Ông Phạm Xuân T, bà Nguyễn Thị Thu H1: Ngày 27-8-2017, ông bà ký hợp đồng thuê của bà L1 diện tích đất (05x30)m để buôn bán, ngay vị trí đất tranh chấp. Ông bà đã dựng nhà vòm khung sắt, mái lợp tôn trên đất và sử dụng từ cuối năm 2017. Hiện tại ông bà đã hấm dứt hợp đồng, tháo dỡ các tài sản và trả lại đất cho bà L1 nên không có yêu cầu gì.

- Ông Đỗ Duy P1: Ông chung sống như vợ chồng với bà Liên từ năm 1997 nhưng không đăng ký kết hôn, có 01 con chung là chị Đỗ Hà M (sinh năm 1999). Nguồn gốc đất tranh chấp là do ông và bà L đổi 01 ha đất rẫy cho ông C để lấy 05m đất (đang tranh chấp) ở mặt đường quốc lộ. Ông bà đã làm một căn nhà gỗ trên đất. Do mâu thuẫn nên ông bỏ nhà đi và giao lại nhà, đất cho bà L quản lý, sử dụng. Ông đồng ý giao cho bà L toàn quyền quyết định và không có yêu cầu gì đối với thửa đất tranh chấp.

- Chị Đỗ Hà M: Chị là con ruột của ông P1 và bà L. Tại thời điểm ông P1 và bà L sử dụng đất thì chị còn nhỏ nên không biết gì về nguồn gốc đất. Chị không có công sức đóng góp nên không có yêu cầu gì trong vụ án.

- Ủy ban nhân dân tỉnh Đ: Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số BU 307086 và BU 307087 ngày 29-01-2015 cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ được thực hiện đúng quy định tại Điều 70 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP. Trong thời gian xem xét, cấp đổi GCNQSDĐ cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ, các cơ quan không nhận được đơn kiến nghị nào của người dân về việc cấp đổi GCNQSDĐ này. Đối với diện tích đất 58.627,5m² mà người dân đang sử dụng và xảy ra tranh chấp, trước đây là quy hoạch đất quốc phòng nhưng đến thời điểm hiện tại, Bộ Q chưa có ý kiến đối với phần đất này nên Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) tỉnh Đắk Nông không có cơ sở thu hồi đất để giao cho địa phương quản lý.

- Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Nông: Tờ bản đồ địa chính ngày 24-6-2008 do Trung tâm đo đạc, tư vấn Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ lập năm 2008, mục đích xác định diện tích, ranh giới, vị trí thửa đất của các hộ gia đình đang sử dụng để phục vụ công tác thu hồi, giải phóng mặt bằng xây dựng trụ sở Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đ. Các thửa đất thể hiện tên Hà Thị L, Hà Mạnh C, Hà Thái H2 và Hà Thị H9 tại tờ bản đồ nằm trong diện tích 325.684m² được UBND tỉnh Đ cấp cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ, đơn vị Ban Chỉ huy Quân sự huyện Đ – khu 2 theo GCNQSDĐ số R 600167 ngày 27-12-2001 và thuộc trường hợp bị thu hồi. Năm 2008, những hộ gia đình có đất bị thu hồi đã phối hợp khảo sát, đo đạc, thống kê nhà ở, tài sản gắn liền trên đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tuy nhiên sau đó họ không đồng ý giao đất nên Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ không thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các thửa đất này. Quá trình quản lý và sử dụng, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ đã rà soát, xác định ranh giới, vị trí, diện tích sử dụng cho mục đích quốc phòng và đề nghị UBND tỉnh Đ điều chỉnh. Ngày 29-01-2015, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số: 116/QĐ-UBND về việc cấp đổi GCNQSDĐ cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ, đồng thời cấp GCNQSDĐ số BU 307087, diện tích 34.200,9m² và GCNQSDĐ số BU 307086, diện tích 78024,4m². Hiện tại thửa đất tranh chấp không nằm trong hai GCNQSDĐ nêu trên. Do Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ không quản lý, sử dụng đất tranh chấp nên không có yêu cầu gì.

- Bà Nguyễn Thị T1: Năm 1987, gia đình bà khai hoang một thửa đất tọa lạc tại khối H, thị trấn G và dựng 01 nhà tạm để ở. Năm 1991, bà chuyển nhượng lại cho ông H2 với giá 1.000.000 đồng, hai bên lập giấy viết tay nhưng hiện đã bị thất lạc. Bà xác nhận đất tranh chấp nằm trong thửa đất gia đình bà khai hoang năm 1987 và chuyển nhượng cho ông H2 năm 1991.

Quá trình giải quyết vụ án, những người làm chứng trình bày:

- Ông Dương Văn K: Năm 2009, ông được bầu làm khối trưởng khối 08. Trong thời gian này, một số hộ dân tự làm đơn kê khai và xin xác nhận nguồn gốc, tình trạng tài sản trên đất, trong đó có hộ ông C, bà L. Ngày 05-8-2005, ông C xin xác nhận nguồn gốc diện tích đất 2.025m². Tại thời điểm xác nhận, trên đất có nhà gỗ và ông C đang sử dụng để ở, sát nhà ông C có nhà gỗ của bà L. Ngày 29-6-2007, bà L có đơn xin xác nhận nội dung bà đang sử dụng thửa đất diện tích 350m2, gồm 300m² đất ở và 50m² đất nông nghiệp; 01 nhà mái lợp tôn, xây lửng xi măng, diện tích 24m², làm từ năm 1993. Ông xác nhận nội dung mà bà L kê khai là đúng. Đồng thời, ông xác nhận thửa đất tranh chấp có vị trí đúng thửa đất mà bà L kê khai tại đơn đề ngày 29-6-2007.

- Ông Trịnh Mai H5, bà Nguyễn Thị H6, bà Nguyễn Thị H7 đều trình bày: Trước năm 2003 thì bà L và ông Đỗ Duy P1 có canh tác và sử dụng thửa đất rẫy khoảng 02ha, tại tổ dân phố E, phường N, có tứ cận: 01 cạnh giáp vợ chồng ông C1 (ông T3), bà H8, 01 cạnh giáp bà H6, 01 cạnh giáp vợ chồng ông Á, bà T4 và cạnh còn lại giáp người dân (không biết họ, tên), từ trước đến nay các thửa đất giáp ranh đã chuyển nhượng cho nhiều người nên các chủ sử dụng đất giáp ranh có thay đổi, sau đó vài năm thấy bà L, ông P1 và ông C cùng sử dụng thửa đất trên. Đến năm 2016 không thấy bà L, ông P1 hay ông C sử dụng thửa đất trên nữa. Giữa bà L, ông P1 và ông C có việc đổi đất, chuyển nhượng đất với nhau hay không thì không biết.

- Bà Thái Thị L3 trình bày: Khoảng năm 2014, vợ chồng bà L3 nhận chuyển nhượng của bà L 01 thửa đất rẫy tại: tổ dân phố E, phường N, tứ cận thửa đất thời điểm bà nhận chuyển nhượng 01 cạnh giáp ông H11, 01 cạnh giáp đường đất, 01 cạnh giáp đất bà L (thời điểm đó bà L có nhiều đất), diện tích đất theo GCNQSDĐ (thửa đất có hình tam giác), bà L là người chuyển nhượng đất và giao đất, nhưng GCNQSDĐ đứng tên ông H2 và bà D nên bà L3 viết giấy tờ mua bán viết tay với bà L, ông H2, bà D ký hồ sơ chuyển nhượng thửa đất trên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tất cả thủ tục chuyển nhượng và giao tiền đều có ông H2, bà D và bà L, ông H2 bà D nói nhận tiền xong sẽ giao tiền lại cho bà L. Năm 2016 chồng bà L3 mất, năm 2021 bà chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho bà N1 (Cửa hàng V). Thời điểm bà L3 nhận chuyển nhượng thửa đất trên từ bà L thì bà L3 nghe nói bà L chuyển nhượng thửa đất giáp ranh thửa đất bà nhận chuyển nhượng của bà L cho ông C và ông C cũng có 01 thửa đất ở đó từ trước.

- Bà Nguyễn Thị H12 trình bày:Trước đây bà có thửa đất rẫy giáp đất rẫy theo địa chỉ hiện nay là tổ dân phố E, phường N, nhưng không giáp rẫy bà L, lúc đó bà L có 01 thửa đất rẫy diện tích rất nhiều nhưng hiện nay đã chuyển nhượng hết cho nhiều người và chuyển cho người khác, bà không thấy ông Hà Mạnh C có đất rẫy ở tổ E, phường N, trước đây bà có nghe nói chị em nhà bà L có đổi đất rẫy cho nhau, còn cụ thể đổi như thế nào, ai đổi đất cho ai bà không biết.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2022/DS-ST ngày 03-8-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã quyết định:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc buộc ông Phạm Xuân T tháo dỡ 01 căn nhà vòm kích thước (05x13,85)m = 69,25m², kết cấu khung cột sắt, vách tôn, nền gạch men và buộc ông Hà Thái H2 tháo dỡ 01 nhà trọ kích thước (05x9,8)m = 49m², kết cấu móng gạch, khung cột sắt, tường xây lửng, mái tôn, nền xi măng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L.

2.1.Tạm giao cho bà Hà Thị L sử dụng toàn bộ diện tích đất 289,9m² và tài sản trên đất là 01 nhà ở kích thước (05x10,6)m = 53m² do bà L xây năm 2010, tọa lạc tại tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông, đến khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Đất có tứ cận:

  • Phía Đông Nam giáp đất ông Hà Thái H2, cạnh từ điểm 5-6-7-8 có chiều dài 58,2m;
  • Phía Tây Bắc, cạnh từ điểm 1-2-3 chiều dài 30,06m tính từ đường 23/3 xuống giáp đất bà Ngô Thị H13, ông Vũ Văn S1; cạnh từ điểm 3-4 chiều dài 30,74m giáp đất ông Hà Mạnh C.
  • Phía Tây Nam giáp đường B, cạnh từ điểm 1-8 chiều dài 5m;
  • Phía Đông Bắc giáp đường bê tông, cạnh từ điểm 4-5 chiều dài 5m.

(Kèm theo mảnh trích đo địa chính số 211-2023, hệ toạ độ VN-2000 ngày 20/10/2023 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ lập).

Buộc ông Hà Thái H2 phải di dời toàn bộ cát trên phần đất của bà L.

2.2. Tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 01-01-1993 giữa ông C với chị N và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-6-2017 giữa chị N với bà L1 là vô hiệu".

3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Lan N: Tuyên xử: Hợp đồng tặng cho là “giấy cho đất” đề ngày 01/01/1993, giữa ông Hà Mạnh C và chị Lê Thị Lan N vô hiệu và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “giấy bán đất” đề ngày 10/6/2017, giữa chị Lê Thị Lan N và bà Hà Thị L1 vô hiệu.

4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị L1: Tuyên xử: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “giấy bán đất” đề ngày 10/6/2017, giữa chị Lê Thị Lan N và bà Hà Thị L1 vô hiệu.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05-2-2024, bị đơn ông Hà Mạnh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị L1 và chị Lê Thị Lan N kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông:

- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.

- Về nội dung: Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn ông C và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà L1, chị N, bà H9, ông H2 đều thừa nhận ông C đồng ý để bà L quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp từ năm 1993, sau đó đến năm 2007 ông C đồng ý để bà L đứng tên trong giấy xác nhận nguồn gốc diện tích này. Quá trình sử dụng đất vào năm 2004 bà L dựng 01 nhà gỗ, mái lợp tôn, đến khoảng năm 2010 thì bà L dỡ nhà gỗ đi xây lại nhà mới, việc bà L 02 lần làm nhà thì ông C và anh em trong gia đình đều biết nhưng không có ý kiến gì. Như vậy, có căn cứ xác định nguồn gốc đất đất tranh chấp ông C đã giao cho bà L quản lý, sử dụng.

“Giấy cho đất” ghi ngày 01/01/1993 được lập vào năm 2017, thời điểm này đã phát sinh tranh chấp; “giấy bán đất” ghi ngày 20/6/2015 tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11/01/2023 bà H9 cung cấp cho Tòa án, tại thời điểm lập các hợp đồng trên thì diện tích đất trên chưa được cấp GCNQSDĐ, ông C cũng không phải là người sử dụng đất mà bà L mới là người trực tiếp sử dụng đất ổn định, lâu dài có xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của ông C, chị N, bà H9, bà L1, ông H2 về nguồn gốc đất tranh chấp trên.

Về hình thức hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về hình thức theo quy định tại Điều 502 Bộ luật dân sự. Tại thời điểm thực hiện việc chuyển nhượng thửa đất nêu trên chưa được cấp GCNQSD đất nên chưa đủ điều kiện để chuyển nhượng theo quy định tại Điều 188 luật đất đai năm 2013. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “giấy bán đất” ngày 10/6/2017, giữa chị N và bà L1 vô hiệu là có căn cứ.

Từ sự phân tích trên thấy kháng cáo của bị đơn ông Hà Mạnh C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Lan N là không có căn cứ để chấp nhận.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30/01/2024 của TAND thành phố Gia Nghĩa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Đơn kháng cáo của ông Hà Mạnh C và chị Lê Thị Lan N nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật và được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đối với kháng cáo của bà Hà Thị L1 nộp trong thời hạn luật định, nhưng không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo thông báo của Tòa án cấp sơ thẩm mà không có lý do chính đáng và không thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định nên căn cứ vào Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi như bà L1 đã từ bỏ việc kháng cáo của mình. Do vậy, tại cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu kháng cáo của bà Hà Thị L1 theo đúng quy định của pháp luật.

[1.2]. Tòa án cấp sơ thẩm không nhận định về việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị N với bà L1 là có thiếu sót. Trường hợp các bên không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu sau khi được giải thích thì cấp sơ thẩm cần nhận định dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng liên quan đến hợp đồng bị vô hiệu mới đúng.

[1.3]. Việc giải quyết vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Qúa trình giải quyết vụ án, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa các cấp và được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Do vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt theo đúng quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét về nguồn gốc đất đang tranh chấp thể hiện: Các bên đều thừa nhận diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc năm 1991, ông C và ông H2 nhận chuyển nhượng chung của bà T1 01 thửa đất diện tích (42m x 75m), tọa lạc tại khối H, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk (cũ), nay là tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Năm 1993, ông H2 chia cho ông C (27x75)m; chia cho bà H9 (05x75)m, phần đất còn lại (10 x75)m là của ông H2.

Năm 1993, bà L vào Đắk Nông sống chung với ông C. Khoảng năm 2000, ông cùng anh em trong gia đình dựng cho bà L một căn nhà gỗ khoảng 24m², mái lợp tôn, tường xây lửng, thưng ván; bà L sử dụng nhà, đất ổn định, liên tục trong nhiều năm.

Năm 2005, Nhà nước có chủ trương giải tỏa khu đồi trùng tu. Để được cấp đất tái định cư, ông C đã xin xác nhận nguồn gốc đất với diện tích 2.025m² là do khai hoang năm 1987 (bao gồm cả diện tích đất tranh chấp hiện nay). Năm 2007, ông C để bà L đứng tên kê khai diện tích đất sử dụng 350m² nhằm mục đích nếu Nhà nước thu hồi, giải tỏa thì được cấp đất tái định cư (đơn được xác nhận của chính quyền địa phương).

Bà H9, bà L1, ông H2 cùng tất cả các anh chị em trong gia đình đều biết việc bà L sử dụng đất, làm nhà, làm đơn xin xác nhận đất. Sau này do nhà cũ mục nát nên bà L xây lại nhà mới.

Tất cả các nội dung nêu trên đều được các bên thừa nhận trong quá trình giải quyết và phù hợp với lời khai của các bên đương sự, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

[2.2]. Qúa trình sử dụng đất, phía bị đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp do ông đã tặng cho cháu N (con ruột của bà L) từ năm 1993, diện tích 150m², do thời điểm đó cháu còn nhỏ nên có để cho bà L đứng ra kê khai để nhận đất tái định cư sau này cho cháu N. Năm 2017, chị N vào Đắk Nông sinh sống và yêu cầu bà L trả lại đất nhưng bà L không đồng ý. Để giúp chị N lấy lại đất, khoảng đầu năm 2017 ông viết giấy tặng cho đất chị N nhưng đề ngày 01-01-1993, sau đó nhờ anh chị em trong gia đình là ông H2, bà L1, bà H9 ký làm chứng. Ngày 10-6-2017, chị N viết giấy tay chuyển nhượng diện tích đất này cho bà L1.

Hội đồng xét xử xét thấy: Xét về nguồn gốc sử dụng đất như đã nhận định nêu trên, đối chiếu với quy định của pháp luật tại thời điểm thi hành Luật đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 (Điều 5 Luật đất đai 1987; Điều 6 Luật đất đai năm 1993; mục 3 Điều 1 của Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999...) thì mọi giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất mà chưa có giấy tờ về quyền sử dụng đất đều bị nghiêm cấm. Do vậy, nếu có việc tặng cho trước đây và việc đổi đất giữa bà L với ông C, hay việc chuyển nhượng giữa chị N với là L1 như lời trình bày của các bên đương sự nêu trên đều không hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Qúa trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều không cung cấp dược tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền sử dụng đất của mình là hợp pháp. Vì vậy, cần phải xác định rằng không có ai là người có quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

[2.3]. Quá trình giải quyết vụ án, ông C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các anh chị em ruột trong gia đình đều xác nhận ông C đã đồng ý để bà L quản lý, sử dụng diện tích đất trên từ những năm 1993, sau đó đến năm 2007 ông C tiếp tục đồng ý để bà L đứng tên kê khai trong giấy xác nhận nguồn gốc đất trên. Do vậy, có cơ sở xác định ông C đã giao điện tích đất tranh chấp cho bà L quản lý, sử dụng, làm nhà và sinh sống ổn định, nộp thuế nhà đất từ những năm 2010, những người trong gia đình không ai có ý kiến phản đối và đến năm 2017 mới phát sinh tranh chấp. Do vậy, theo quy định của pháp luật thì Nhà nước bảo hộ đối với những trường hợp cá nhân nào đang quản lý, tạo lập tài sản, sinh sống ổn định, liên tục trên đất trong khoản thời gian dài và đóng thuế đầy đủ theo quy định của pháp luật thì được cấp GCNQSDĐ nếu đất không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng của Nhà nước.

[2.4]. Theo Kết quả xác minh và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện vị trí, diện tích đất tranh chấp hiện nay chưa ai kê khai cấp GCNQSDĐ và không ai có tên trong sổ mục kê, địa chính. Mặt khác, theo trình bày và hồ sơ phía Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ thể hiện ngày 24/6/2008, Trung tâm đo đạc và tư vấn Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đo đạc, lập bản đồ, mục đích là để đo đạc xác định diện tích, ranh giới, vị trí thửa đất của các hộ gia đình đang sử dụng để phục vụ công tác thu hồi, giải phóng mặt bằng xây dựng trụ sở Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đ. Các thửa đất thể hiện tên Hà Thị L, Hà Mạnh C, Hà Thái H2 và Hà Thị H9 tại tờ bản đồ nằm trong diện tích 325.684m² được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ, đơn vị Ban chỉ huy quân sự huyện Đ – khu 2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 600167 cấp ngày 27/12/2001 và thuộc trường hợp bị thu hồi. Quá trình quản lý, sử dụng, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ đã rà soát, xác định ranh giới, vị trí, diện tích sử dụng cho mục đích quốc phòng và đề nghị UBND tỉnh Đ điều chỉnh. Ngày 29-01-2015, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số: 116/QĐ-UBND về việc cấp đổi GCNQSDĐ cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ, đồng thời cấp GCNQSDĐ số BU 307087, diện tích 34.200,9m² và GCNQSDĐ số BU 307086, diện tích 78024,4m². Hiện tại, thửa đất tranh chấp không nằm trong hai GCNQSDĐ nêu trên nhưng vẫn nằm trong quy hoạch đất mục đích quốc phòng, an ninh và chưa thay đổi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với diện tích đất nếu trên. Do vậy, mọi giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất như hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 01-01-1993 giữa ông C với chị N và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-6-2017 giữa chị N với bà L1 đều không được bảo hộ và đều vô hiệu.

Tại khoản 3 Điều 148 của Luật đất đai năm 2013 quy định: “Đối với những khu vực nằm trong quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh nhưng chưa có nhu cầu sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh thì người đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đến khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng không được làm biến dạng địa hình tự nhiên”. Như vậy, theo nhận định tại mục [2.2], [2.3] nêu trên thì có căn cứ để xác định bà L là người đang sử dụng đất liên tục, ổn định nên cần tuyên tạm giao cho bà L được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất 289,9m², tọa lạc tại khối H, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk (cũ), nay là tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông là phù hợp.

[2.5]. Về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Do 02 hợp đồng trên vô hiệu nên không làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Do chị N, bà L1 trong quá trình giải quyết vụ án không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu nên tại cấp phúc thẩm cũng không xem xét. Chị N, bà L1 có quyền khởi kiện bằng vụ án khác nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng theo quy định của pháp luật.

[3]. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy chị N, ông C kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận; Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông như đã nhận định tại mục [1.2] nêu trên và phần áp dụng pháp luật nội dung.

[4]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá với số tiền 32.823.227 đồng. Được trừ số tiền 8.200.000₫ mà ông C đã nộp, buộc ông C phải trả bà Hà Thị L số tiền 24.623.227đ mà bà L đã nộp.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hà Mạnh C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị Lê Thị Lan N phải chịu 600.000₫ án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào tiền 600.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006106 ngày 24/11/202, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Bà Hà Thị L1 phải chịu 300.000đ, án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số0006043 ngày 10/12/2021, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Hoàn trả cho bà Hà Thị L 500.000đ tạm ứng án phí theo biên lai số 0004110 ngày 20/6/2018 và 800.000đ tạm ứng án phí bổ sung theo các biên lai số 0000067 ngày 13/11/2018, số 0006213 ngày 31/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gia Nghĩa (nay là thành phố G), tỉnh Đắk Nông.

[6]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bác yêu cầu kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Được khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Mạnh C và chị Lê Thị Lan N. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Áp dụng Điều 5 Luật đất đai 1987; Điều 6 Luật đất đai năm 1993; mục 3 Điều 1 của Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc buộc ông Phạm Xuân T tháo dỡ 01 căn nhà vòm kích thước (05x13,85)m = 69,25m², kết cấu khung cột sắt, vách tôn, nền gạch men và buộc ông Hà Thái H2 tháo dỡ 01 nhà trọ kích thước (05x9,8)m = 49m², kết cấu móng gạch, khung cột sắt, tường xây lửng, mái tôn, nền xi măng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L.

2.1.Tạm giao cho bà Hà Thị L sử dụng toàn bộ diện tích 289,9m² đất và tài sản trên đất là 01 nhà ở kích thước (05x10,6)m = 53m² do bà L xây năm 2010, tọa lạc tại tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông, đến khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đất có tứ cận:

  • Phía Đông Nam giáp đất ông Hà Thái H2, cạnh từ điểm 5-6-7-8 có chiều dài 58,2m;
  • Phía Tây Bắc, cạnh từ điểm 1-2-3 chiều dài 30,06m tính từ đường 23/3 xuống giáp đất bà Ngô Thị H13, ông Vũ Văn S1; cạnh từ điểm 3-4 chiều dài 30,74m giáp đất ông Hà Mạnh C.
  • Phía Tây Nam giáp đường B, cạnh từ điểm 1-8 chiều dài 5m;
  • Phía Đông Bắc giáp đường bê tông, cạnh từ điểm 4-5 chiều dài 5m.

(Kèm theo mảnh trích đo địa chính số 211-2023, hệ toạ độ VN-2000 ngày 20/10/2023 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ lập).

Buộc ông Hà Thái H2 phải di dời toàn bộ cát trên phần đất của bà L.

2.2. Tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 01-01-1993 giữa ông Hà Mạnh C với chị Lê Thị Lan N và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-6-2017 giữa Lê Thị Lan N với bà Hà Thị L1 là vô hiệu.

3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Lan N: Tuyên xử: Hợp đồng tặng cho là “giấy cho đất” đề ngày 01/01/1993, giữa ông Hà Mạnh C và chị Lê Thị Lan N vô hiệu và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “giấy bán đất” đề ngày 10/6/2017, giữa chị Lê Thị Lan N và bà Hà Thị L1 vô hiệu.

4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị L1: Tuyên xử: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “giấy bán đất” đề ngày 10/6/2017, giữa chị Lê Thị Lan N và bà Hà Thị L1 vô hiệu.

5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản:

Ông Hà Mạnh C chịu 32.823.227đ tiền chí phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, được trừ số tiền 8.200.000đ (tám triệu hai trăm nghìn đồng) mà ông C đã nộp, buộc ông C phải trả bà Hà Thị L số tiền 24.623.227₫ (Hai mươi bốn triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn hai trăm hai mươi bảy đồng) mà bà L đã nộp.

6. Về án phí:

6.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

6.1. Ông Hà Mạnh C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6.2. Chị Lê Thị Lan N phải chịu 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng)án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng)tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006106 ngày 24/11/2021,tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

6.3. Bà Hà Thị L1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số0006043 ngày 10/12/2021, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

6.4. Hoàn trả cho bà Hà Thị L 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai số 0004110 ngày 20/6/2018 và 800.000₫ (tám trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bổ sung theo các biên lai số 0000067 ngày 13/11/2018, số 0006213 ngày 31/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gia Nghĩa (nay là thành phố G), tỉnh Đắk Nông.

Áp dụng Điều 357 của Bộ luật dân sự tính lãi suất chậm trả tiền theo quy định của pháp luật.

6.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hà Mạnh C, chị Lê Thị Lan N mỗi người phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ số tiền 600.000₫ tạm ứng phán phí đã nộp theo các bên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000828, 0000829, ngày 19/2/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

7. Các quyết định của của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thồi hạn kháng cáo, kháng nghị.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - TAND thành phố Gia Nghĩa;
  • - VKSND thành phố Gia Nghĩa;
  • - Chi cục THADS thành phố Gia Nghĩa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: TDS, THCTP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký, đóng dấu)

Lê Văn Hữu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất; yêu cầu tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

  • Số bản án: 61/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất; yêu cầu tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Mạnh Cường và chị Lê Thị Lan Ngọc. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger