|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25/07/2024
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Lan.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Văn Thắng.
- Ông Nguyễn Minh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Đình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Huỳnh Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 105/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Võ Thanh T, sinh năm: 1987, địa chỉ: Số I, H, phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
* Bị đơn: Anh Ngô Đình D, sinh năm: 1983, địa chỉ: Số B, ấp P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre.
(Chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Anh D vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và các biên bản trong quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn chị Võ Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Đình D tự nguyện kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng vào năm 2021 thì giữa chị và anh Ngô Đình D xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Nay, chị xác định không còn tình cảm với anh Ngô Đình D chị yêu cầu ly hôn với anh D. Khi ly hôn, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
Về con chung: Có 02 con chung là Ngô Võ Trường T1, sinh ngày 01/04/2010 và Ngô Đình T2, sinh ngày 07/01/2020. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Ngô Đình D mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Ngô Đình D đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh Ngô Đình D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, các Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật.
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71; bị đơn thực hiện chưa đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào nội dung trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện hôn nhân giữa chị T, anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung giữa vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T. Về hôn nhân, chị T được ly hôn anh D. Ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung là Ngô Võ Trường T1, sinh ngày 01/04/2010 và Ngô Đình T2, sinh ngày 07/01/2020 giao 02 cháu Ngô Võ Trường T1 và Ngô Đình T2 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Anh Duy và chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục, cấp dưỡng con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con anh D và chị T có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82,83, 84 Luật HN&GĐ.
Về tài sản chung: Chị T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
Về nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Võ Thanh T và anh Ngô Đình D là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh D có nơi cư trú tại số B, ấp P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh D vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai; chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 288 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh D.
[2] Về hôn nhân: Chị T và anh D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 09/01/2008 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T xác định giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cãi. Chị T và anh D đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng anh D vắng mặt, không tham gia hòa giải, điều đó cho thấy anh D không mong muốn vợ chồng đoàn tụ.
Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng hiện chị T và anh D sống ly thân đã lâu, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, quá trình chung sống hai bên cũng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được, nay chị T xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh D. Từ đó có cơ sở để xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
[3] Về con chung: Chị T và anh D có 02 con chung là Ngô Võ Trường T1, sinh ngày 01/04/2010 và Ngô Đình T2, sinh ngày 07/01/2020 hiện đang sống chung với mẹ. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy cháu T1 và cháu T2 hiện vẫn đang sống với mẹ và được chị T chăm sóc tốt. Tại biên bản ghi nhận ý kiến con ngày 24/06/2024 cháu T1 có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Qúa trình giải quyết vụ án anh D đã được Tòa án thông báo về việc chị T yêu cầu ly hôn và nuôi 02 con nhưng anh D không có ý kiến và cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với các yêu cầu của chị T, điều đó chứng tỏ anh đã mặc nhiên chấp nhận cho chị T nuôi con chung.
Từ những phân tích trên, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cũng như yêu cầu nguyện vọng của con chung nên việc giao 02 con chung là Ngô Võ Trường T1 và Ngô Đình T2 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật HN&GĐ. Ghi nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[5] Về nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[6] Về án phí: Chị T là người khởi kiện yêu cầu ly hôn nên chị phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Võ Thanh T được ly hôn với anh Ngô Đình D. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Về con chung: Giao 02 cháu là Ngô Võ Trường T1, sinh ngày 01/04/2010 và Ngô Đình T2, sinh ngày 07/01/2020 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ghi nhận việc chị T tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
- Về nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
- Về án phí: Chị Võ Thanh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002002 ngày 07/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị T đã nộp xong án phí.
Chị T, anh D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thanh Lan |
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị T được ly hôn với anh D
