|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25/6/2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ái Ngân.
– Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Minh Lý;
Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
– Thư ký phiên tòa: Bà Cao Viết Xuân Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/6/2024 giữa các đương sự:
– Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc P, sinh năm 1993.
Địa chỉ: số B đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
– Bị đơn: Ông Trần Tuấn V, sinh năm 1992.
Địa chỉ: số F, đường Đ, khu D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Lê Ngọc P trình bày:
Bà Lê Ngọc P và ông Trần Tuấn V tự nguyện tìm hiểu nhau, chung sống và có đăng ký kết hôn tại UNBD phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào năm 2018 (GCNKH số 56 ngày 14 tháng 8 năm 2018).
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, ông V không lo phấn đấu làm việc dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, mỗi lần như vậy ông V đập phá nhà cửa. Mặc dù bà P đã cho ông V nhiều cơ hội sửa chữa nhưng ông V không thay đổi. Gia đình hai bên cũng đã nhiều lần can thiệp, hòa giải nhưng bà P và ông V vẫn không hàn gắn được, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Từ khi bà P sinh con, bà P đã ở tại nhà mẹ ruột, không còn chung sống với ông V với nhau từ năm 2019 cho đến nay.
Về con chung: Bà Lê Ngọc P và ông Trần Tuấn V có một con chung là Trần Lê Quang V1, sinh ngày 23/10/2019. Sau khi ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Trần Tuấn V cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà, nguyên đơn bà Lê Ngọc P vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì.
Bị đơn ông Trần Tuấn V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông V.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Vụ án thụ lý đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Ngọc P khởi kiện ông Trần Tuấn V yêu cầu ly hôn và được nuôi con chung nên quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn ông Trần Tuấn V có nơi cư trú tại số F đường Đ, khu D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Lê Ngọc P vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt bà P theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Trần Tuấn V được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông V vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt ông V theo khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Lê Ngọc P và ông Trần Tuấn V chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T vào năm 2018 (GCNKH số 56 ngày 14 tháng 8 năm 2018) nên hôn nhân của bà P và ông V là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không thể hòa giải được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Bà P và ông V đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Ông V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến làm việc, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thể hiện việc ông V không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà P. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc lẫn nhau, việc bà P và ông V là vợ chồng nhưng đã ly thân, không còn chung sống, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn cùng chia sẻ, thực hiện các công việc chung trong gia đình như vậy đã vi phạm nghiêm trọng đến quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà Lê Ngọc P là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Bà Lê Ngọc P và ông Trần Tuấn V có một con chung là Trần Lê Quang V1, sinh ngày 23/10/2019. Bà P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Xét thấy, hiện nay con chung đang do bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của chung Hội đồng xét xử giao cháu Trần Lê Quang V1 cho bà Lê Ngọc P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Xét ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Ngọc P đối với bị đơn ông Trần Tuấn V về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- - Về hôn nhân: Bà Lê Ngọc P được ly hôn với ông Trần Tuấn V.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Lê Quang V1, sinh ngày 23/10/2019 cho bà Lê Ngọc P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì quyền lợi hợp pháp của con. Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Ngọc P không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Lê Ngọc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004342 ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ái Ngân |
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Ngọc P đối với bị đơn ông Trần Tuấn V về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. - Về hôn nhân: Bà Lê Ngọc P được ly hôn với ông Trần Tuấn V. - Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Lê Quang V1, sinh ngày 23/10/2019 cho bà Lê Ngọc P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
