|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HS-PT Ngày: 24 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Đạt.
Ông Võ Ngọc Giàu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 31/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2023/HSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm: 1988, tại thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ; Số CMND/Thẻ CCCD: [...] cấp ngày 09/8/2021; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị C; vợ: Trần Thị Minh P; Con: 01 người; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án có 01 bị hại, 04 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/01/2021, Nguyễn Văn L và vợ là chị Trần Thị Minh P, cùng mua 01 xe mô tô 02 biển số 63G1-017.22, do chị P là người đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe bằng hình thức vay thế chấp trả góp hàng tháng với Công ty T1. (Công ty T1 giữ giấy chứng nhận đăng ký xe 63G1-017.22 bản chính và cấp bản sao của giấy chứng nhận cho chị P). Liệt là người thực hiện nghĩa vụ trả tiền góp hàng tháng và trực tiếp quản lý, sử dụng xe.
Đầu tháng 4/2022, Nguyễn Trung T, là cháu ruột chị P yêu cầu vợ chồng L trả khoản nợ đã mượn là 11.000.000 đồng, L không có tiền trả nợ nên nảy sinh ý định đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63G1- 017.22 để đem cầm cố lấy tiền trả nợ. Liệt sử dụng mạng xã hội Facebook đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63G1-017.22 với giá 1.200.000 đồng, không nói cho chị P biết. Ngày 04/4/2022, L đi cùng Nguyễn Trung T đem xe mô tô biển số 63G1-017.22 và giấy chứng nhận đăng ký xe 63G1-017.22 giả đến Dịch vụ cầm đồ Huy Phượng 2, địa chỉ: quốc lộ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang do anh Nguyễn Hữu H, làm chủ để cầm cố xe với số tiền 20.000.000 đồng. Do chị P đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe nên khi cầm xe Liệt gọi điện thoại Z có hình ảnh cho chị P nói chuyện với H để xác nhận đồng ý cho L cầm xe 63G1-017.22 nên H nhận cầm xe. Sau khi nhận tiền L trả nợ cho T 11.000.000 đồng và cho T mượn số tiền 9.000.000 đồng. Liệt thực hiện nghĩa vụ đóng tiền lãi cầm xe cho H được 02 tháng. Đến ngày 18/6/2022, L đến gặp H thỏa thuận cầm xe thêm số tiền 5.000.000 đồng.
Đến cuối tháng 9/2022, do L không tiếp tục đóng tiền lãi nên H tìm, yêu cầu chị P chuộc lại xe nhưng chị P không có khả năng chuộc đóng lãi nên H đề nghị thanh lý xe, chị P đồng ý. Trong quá trình thanh lý xe H phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe 63G1-017.22 là giả nên trình báo cơ quan Công an.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (Một) xe mô tô Exciter màu đen, biển số 63G1-017.22, không gắn kính chiếu hậu. Do chị Trần Thị Minh P đứng tên chủ sở hữu; 01 (một) hợp đồng cầm đồ ngày 04/5/2022 của dịch vụ cầm đồ Huy Phượng 2; 01 (một) hợp đồng cầm đồ ngày 18/6/2022 của dịch vụ cầm đồ Huy Phượng 2; 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63G1-017.22, được bỏ vào bì thư niêm phong lại, có chữ ký Nguyễn Hữu H và mộc đỏ tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2023/HSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Ngày 19 tháng 12 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo với nội dung: xin được hưởng án treo.
2
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu hoặc tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Bản án sơ thẩm đã xử, thể hiện: Vào đầu tháng 4/2023, Nguyễn Văn L, đã có hành vi làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63G1- 017.22 và sử dụng giấy chứng nhận xe giả để đi cầm cố lấy tiền. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, xét về ý thức chủ quan bị cáo vẫn biết việc làm giả tài liệu của cơ quan là vi phạm pháp luật, vì đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắng bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan Nhà nước về con dấu, tài liệu giấy tờ khác. Do đó phải được xử lý bằng pháp luật hình sự để cải tạo giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm có xem xét đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng. Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục toàn bộ thiệt hại, mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, lý lịch rõ ràng, ngoài ra tại cấp phúc thẩm bị cáo có bổ sung xác nhận bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn là lao động chính nuôi mẹ già. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Cho nên nghĩ cần không phải cách ly ra khỏi xã hội mà giao về cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.
[4] Quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
[5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 157/2023/HSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của Quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mai Văn Hùng Cường |
4
5
Bản án số 61/2024/HS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 61/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào đầu tháng 4/2023, Nguyễn Văn L, sinh năm: 1997, nơi thường trú: ấp T B, xã T C N, huyện C T tỉnh T G do không có tiền trả nợ cho chị Trần Thị Minh P nên đã nảy sinh ý định làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63G1- 017.22 để đem cầm cố lấy tiền trả nợ thì bị phát hiện
