TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:61/2024/HSST Ngày 24/4/2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM. THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cồ Khắc Đam
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Vũ Minh Long
- 2. Ông Nguyễn Viết Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhiên, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 với các bị cáo:
1. Lê Tuấn T, sinh năm 1985 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Lê Bá T1; Họ tên mẹ: Đàm Thị L; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H(đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 31/8/2006, Tòa án nhân dân quận Long Biên – TP Hà Nội xử 12 tháng tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo T bồi thường cho anh Dương Văn B 7.100.000 đồng nhưng anh B không có yêu cầu đề nghị gì về khoản bồi thường trên. Ngày 17/5/2007, T đã nộp tổng số tiền 405.000 đồng gồm án phí dân sự và hình sự.
- Ngày 21/12/2006, Tòa án nhân dân quận Long Biên - TP Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù giam tại bản án ngày 31/8/2006 của TAND quận Long Biên buộc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 24 tháng tù giam tính từ ngày 8/7/2006. Ngày 26/6/2007, T đã nộp tổng số tiền 210.000 đồng (gồm 50.000 đồng tiền án phí hình sự và 160.000 đồng tiền sung công quỹ nhà nước). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/5/2008 .
- Ngày 12/5/2011, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/10/2011 đã đóng án phí HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/9/2012 .
- Ngày 30/6/2015, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, Hưng Yên xử phạt 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” hạn tù tính từ ngày 27/1/2015 (bản án 41/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/11/2017. Buộc T phải đóng 200.000 đồng án phí HSST. Qua kiểm tra hệ thống sổ sách tại chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm, chưa thụ lý, tổ chức thi hành theo bản án 41/HSST ngày 30/6/2015.
- Ngày 31/8/2018, Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 42 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, hạn tù tính từ ngày 12/4/2018. Ngày 13 và ngày 17/12/2018, T đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 466.666 đồng án phí dân sự sơ thẩm. T đã bồi thường 4.000.000 đồng cho anh Lê Văn T2 và chị Đặng Thị H1. Số tiền buộc T bồi thường 2.000.000 đồng cho anh Vũ Ngọc C sinh năm 1997 trú tại: Ngõ A tổ A, phường T, L và số tiền 3.333.334 đồng cho chị Ngô Thị H2 sinh năm 1995 ở số D A tổ E, phường T, L, Hà Nội đến nay anh C và chị H2 không yêu cầu gì đối với khoản tiền này. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2021.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Đình H3, sinh năm 1984 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: TDP C, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Đình H4(đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L1; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Có 02 tiền án chưa xóa án tích:
- Ngày 08/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” và 18 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp chung của 2 tội buộc H3 phải chấp hành là 26 tháng tù, hạn tù tính từ ngày 07/12/2016. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/11/2018.
- Ngày 27/11/2020, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” và 09 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Tổng hợp hình phạt của 2 tội buộc H3 phải chấp hành 21 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 16/5/2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/2022.
Nhân thân:
- Ngày 25/12/2002, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trộm máy bơm của chị Nguyễn Thị Bích T3 trị giá 200.000 đồng).
- Ngày 23/12/2009, Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hạn tù tính từ ngày 08/11/2009. Ngày 08/4/2012, chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị giữ khẩn cấp ngày 29/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Ngọc A, sinh năm 1980
Nơi cư trú: TDP A, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ ngày 29/12/2023, tổ công tác đội CSĐTTP về ma túy - Công an huyện G đang làm nhiệm vụ ở khu vực đường A thuộc tổ dân phố A, thị trấn T, G, Hà Nội thì phát hiện Lê Tuấn T và Nguyễn Đình H3 đang ngồi trên 01 chiếc xe máy và Lê Ngọc A- Sinh năm 1980, HKTT: TDP A, thị trấn T, Gia Lâm H có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Qua kiểm tra Lê Tuấn T tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 mảnh viên nén màu hồng, T khai nhận là ma túy H5 và ma túy “ngựa” của T đang chuẩn bị bán cho Lê Ngọc A thì bị kiểm tra bắt giữ. Kiểm tra và thu giữ 250.000 đồng là tiền Lê Ngọc A dùng để mua ma túy của T nhưng chưa kịp đưa cho T thì bị kiểm tra bắt giữ. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Trong quá trình kiểm tra, H3 bỏ chạy và ném từ tay trái xuống đất 01 túi nilông màu trắng bên trong có 04 túi nilông màu trắng kích thước mỗi túi khoảng 1x1 cm và đều được quấn bằng băng dính đen, bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng. H3 chạy được khoảng 10 mét thì bị lực lượng Công an bắt giữ. Tổ công tác đưa H3 đến vị trí túi nilông rơi và yêu cầu H3 giao nộp nhưng H3 không thừa nhận túi nilông này là của H3, H3 không biết trong túi nilông là gì và không ký biên bản thu giữ vật chứng. Tổ công tác đã mời 02 người làm chứng là anh Huỳnh Ngọc T4- Sinh 1995, HLTT: Uy Long, T, V, Cần Thơ và anh Hoàng Minh T5- Sinh 1995, HKTT: Thanh Đức, V, Hà Giang chứng kiến toàn bộ sự việc Huân ném túi nilông trên. Ngày 30/12/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đình H3.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đình H3: 01 túi nilông màu trắng kích thước khoảng (2x4) cm bên trong có chứa 04 túi nilon màu trắng kích thước mỗi túi khoảng (1x1) cm và đều được quấn băng dính đen, bên trong mỗi túi đều có chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6 plus màu trắng cũ đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0978673181
Thu giữ của Lê Tuấn T: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 mảnh viên nén màu hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen bên trong lắp sim số 0335770790, máy cũ đã qua sử dụng; 01 xe máy kiểu dáng Suzuki màu đen, BKS:34B5-027.17, số khung: RLSDL11ANMV158178, số máy: CGAI-558272, xe cũ đã qua sử dụng.
Thu giữ của Lê Ngọc A: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đã qua sử dụng bên trong lắp sim số:0912787680; số tiền 250.000 đồng tiền ngân hàng N đang lưu hành.
Ngày 30/12/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Tuấn T ở tổ A, T, L và chỗ ở của Nguyễn Đình H3 ở Tổ dân phố C, thị trấn T, G, Hà Nội nhưng không phát hiện thu giữ gì liên quan đến vụ án.
Tại kết luận giám định số 181/KL-KTHS, ngày 05/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có: chất bột màu trắng là ma túy Heroin, khối lượng 0,173 gam; 01 mảnh nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,050 gam.
Tại kết luận giám định số 188/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 4 túi nilong đều là ma túy loại Methamphetamine tổng khối lượng 1,333 gam.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Lê Tuấn T và Nguyễn Đình H3 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Ngọc A khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 29/12/2023, khi T đang ở nhà tại tổ A, T, L, Hà Nội thì Lê Ngọc A gọi điện thoại từ số 0912.787.xxx đến số điện thoại của của T 0335770790 để hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy Heroin và 50.000 đồng loại ma túy “ngựa” và hẹn giao ma túy ở đường A, thị trấn T, G. Sau đó, T lấy ma túy H5 và ma túy “ngựa” có sẵn trong người ra cho vào 01 mảnh giấy bạc màu trắng rồi cất vào túi quần bên trái của T không nói cho ai biết. Lúc này tại nhà T còn có Nguyễn Đình H3 đến nhà T trả xe máy kiểu dáng Suzuki màu đen, BKS:34B5-027.17 vì trước đó ngày 28/12/2023, H3 mượn xe của T. H3 bảo T đi đâu thì cho H3 đi nhờ về nhà H3 ở C, thị trấn T. Sau đó, T điều khiển xe máy BKS: 34B5 - 027.17 chở H3 đi đến đường A thuộc tổ dân phố A, thị trấn T, G mục đích giao ma túy cho Lê Ngọc A và không nói cho H3 biết. Khi đến đầu đường A, T dừng xe gặp Lê Ngọc A và chuẩn bị lấy ma túy bán cho Ngọc A còn Ngọc A đang đếm tiền chuẩn bị đưa cho T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Quá trình kiểm tra bắt giữ T, thì H3 sợ bỏ chạy và lấy từ túi áo bên trái 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (2x4) cm bên trong có chứa 04 túi nilon màu trắng kích thước mỗi túi khoảng (1x1) cm và đều được quấn bằng băng dính đen bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (là ma túy) ném trên vỉa hè đường A. Khi H3 bỏ chạy được khoảng 10 mét thì bị lực lượng công an khống chế bắt giữ và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Do ban đầu lúc mới bị bắt H3 lo sợ nên không thừa nhận túi nilông có ma túy do H3 ném là của H3. Các lời khai sau H3 đã thành khẩn khai báo và thừa nhận 01 túi ni lông bên trong có ma túy do công an thu giữ là của H3 ném trên vỉa hè đường A. Lời khai nhận của các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Nguồn gốc số ma túy thu giữ của T là do T mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu vực quận H, Hà Nội (không rõ cụ thể địa điểm) vào ngày 26/12/2023 với giá 1.000.000 đồng. Nguồn gốc số ma túy thu giữ của H3 do H3 mua của 1 người đàn ông không quen biết ở khu vực L (không rõ cụ thể địa điểm) với giá 500.000 đồng ngày 29/12/2023 mục đích để sử dụng. Ngày 29/12/2023, khi để ma túy trong túi áo bên trái H3 không nói cho T biết. Do người bán ma túy cho T và H3 không xác định được nhân thân, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lê Ngọc A ngày 29/12/2023 là lần đầu tiên mua ma túy của T mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp nhận ma túy từ T thì T bị công an bắt quả tang. Qua xét nghiệm Lê Ngọc A thể hiện âm tính với ma túy nên Công an huyện G không xử phạt hành chính đối với Lê Ngọc A.
Đối với chiếc xe máy kiểu dáng SUZUKI màu đen đã cũ mang BKS: 34B5 - 027.17, số máy: CGAI - 558272, số khung: RLSDL11ANMV158178. Qua xác minh chiếc xe máy trên không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng, xe đăng ký tên anh Nguyễn Ngọc L2 trú tại B, L, C, Hải Dương. Hiện anh L2 không có mặt tại địa phương nơi cư trú, chính quyền địa phương không biết anh L2 đi đâu, làm gì. Bị can Lê Tuấn T khai mượn chiếc xe máy trên của một người bạn tên là L3 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) ở khu vực N, V, Hưng Yên. Ngày 25/3/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện G đã tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục xác minh chủ sở hữu và xử lý theo quy định.
Đối với chiếc điện thoại di động Vsmart màu đen đã cũ, bên trong lắp sim liên lạc số 0335.770.xxx thu giữ của T; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh bên trong lắp sim liên lạc số 0912.787.xxx và số tiền 250.000 đồng tiền ngân hàng N thu giữ của Lê Ngọc A đều liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6 plus màu trắng cũ đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0978673181 thu giữ của H3 không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 70/CT-VKSGL ngày 10 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Lê Tuấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Nguyễn Đình H3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Tuấn T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Nguyễn Đình H3 khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố tại phiên tòa hôm nay và xác nhận hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo với nội dung Cáo trạng truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Tuấn T.
- Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình H3.
Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Tuấn T từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H3 từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Cho tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy thu giữ của các bị cáo.
- Cho tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen bên trong lắp sim số 0335770790, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ Lê Tuấn T và 01(Một) điện thoại di động Nokia màu xanh bên trong lắp sim liên lạc số 0912.787.xxx và số tiền 250.000 đồng tiền ngân hàng N thu giữ của Lê Ngọc A.
- Trả cho bị cáo Nguyễn Đình H3 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6 plus màu trắng cũ đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0978673181.
Trong phần Tranh luận các bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, khi nói lời sau cùng các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Tuấn T và Nguyễn Đình H3 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Tuấn T và Nguyễn Đình H3 tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định: Hồi 12 giờ ngày 29/12/2023, tại khu vực đường A, tổ dân phố A, thị trấn T, G, Hà Nội, bị cáo Lê Tuấn T có hành vi cất giữ trái phép 0,173 gam ma túy loại Heroine và 0,050 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích bán cho Lê Ngọc A thì bị cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Bị cáo Nguyễn Đình H3 có hành vi tàng trữ 1,333 gam ma túy loai Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Công an bắt giữ. Do đó hành vi của bị cáo Lê Tuấn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình H3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo đã bị kết án 2 lần về bất kỳ tội danh nào, trong lần kết án thứ 2 là Bản án số 193/2020/HSST ngày 27/11/2020, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội đã bị áp dụng tình tiết tái phạm mà hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới do lỗi cố ý sẽ được xác định là tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điều 251 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”
Điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
......
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm
......
o, Tái phạm nguy hiểm”
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi đó của các bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo thực hiện hành vi độc lập, không đồng phạm với nhau khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xác định vai trò của từng bị cáo trong vụ án.
Về nhân thân: Bị cáo Lê Tuấn T có 05 tiền án đã được xóa án tích; Bị cáo Nguyễn Đình H3 có 02 tiền án đã được xóa án tích và 02 tiền án chưa được xóa án tích, điều này chứng tỏ các bị cáo có nhân thân rất xấu, đã được giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng cố tình phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù giam nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề tự do thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số lượng ma túy loại Heroine và Methamphetamine thu giữ của các bị cáo cần cho tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen bên trong lắp sim số 0335770790, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ Lê Tuấn T và 01(Một) điện thoại di động Nokia màu xanh bên trong lắp sim liên lạc số 0912.787.xxx và số tiền 250.000 đồng tiền ngân hàng N thu giữ của Lê Ngọc A. Qua trình điều tra, xác định có liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cho tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6 plus màu trắng cũ đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0978673181 thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình H3. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo H3.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[6] Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Tuấn T;
- Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Đình H3;
- Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1]. Về hình phạt:
- Xử phạt: Bị cáo Lê Tuấn T 30(Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình H3 05(Năm) năm 06(Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
[2]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
[3]. Về xử lý vật chứng:
- Cho tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) phong bì có chữ ký xác nhận của Lê Tuấn T, cán bộ niêm phong Trần Đức Quý và Giám định viên Nguyễn Hoàng H6. Trong gói niêm phong là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,173 gam(đã trích mẫu 0,026 gam) và ma túy loại Methamphetamin, có khối lượng 0,050 gam(đã trừ trích mẫu 0,026 gam).
- 01 (Một) phong bì có chữ ký xác nhận của người chứng kiến Hoàng Minh T5 và Huỳnh Ngọc T4, cán bọ niêm phong Đặng Quang H7 và Giám định viên Nguyễn Hoàng H6. Trong gói niêm phong là ma túy ma túy loại Methamphetamin, có khối lượng 1,333 gam(đã trừ trích mẫu 0,098 gam).
- Cho tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen bên trong lắp sim số 0335770790, máy cũ đã qua sử dụng.
- 01 (Một) điện thoại di động Nokia màu xanh bên trong lắp sim liên lạc số 0912.787.xxx, máy cũ đã qua sử dụng.
- Trả cho bị cáo Nguyễn Đình H3 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6 plus màu trắng cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0978673181.
(Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày 22 tháng 4 năm 2024).
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003889 ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
[4]. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cồ Khắc Đam |
11
Bản án số 61/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T, bị cáo H3 phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
