|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2024/HS- ST Ngày: 23-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Đức Sơn.
2/ Ông Lê Hoàng Phúc.
-Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức
Linh, tỉnh Bình Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham
gia phiên tòa: Ông Cao Quốc Thuận- Kiểm sát viên.
Ngày 23/9/2024, tại phòng xử án- Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2024/TLST-HS, ngày 4/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024, đối với bị cáo:
Bùi Quốc D, sinh năm 1998, tại: Bình Thuận
Nơi cư trú: Khu phố 8, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N và bà Nguyễn Thị Kim T; tiền án: Ngày 26/10/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh kết án 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 3/2/2024; tiền sự: Không; hiện đang tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/3/2024 Bùi Quốc D đang ở nhà, thì Nguyễn Kim Đ sử dụng ứng dụng Mesenger trên Facebook nhắn tin cho D hỏi: có “ráp” không- Vì đã sử dụng ma túy, nên D hiểu ý nghĩa của từ “ráp” là: Có chơi ma túy không? Duy nhắn hỏi lại: Có mấy người? Đ trả lời là: Có 02 người gồm Đ và Đỗ Văn T1. D rủ xuống quán Karaoke ở xã N sử dụng, nhưng Đ không đồng ý mà rủ xuống xã T sử dụng. D không đồng ý. Một lúc sau D nhắn cho Đ là đồng ý lên xã T sử dụng ma túy, đồng thời nhắn cho Đức T2 lên trước, D lên sau. D lấy ở nhà 02 bịch ma túy dạng khay (01 bịch ma túy đã được nghiền thành bột mịn, 01 bịch ma túy chưa được nghiền) và 02 viên ma túy dạng thuốc lắc mà D đã mua trước đó, bỏ vào trong gói thuốc lá hiệu 555 màu xanh bỏ vào túi quần; ngoài ra D còn đem theo 01 gói thuốc là hiệu Jet để hút. Xong D gọi xe taxi chở đến quán K, ở thôn B, xã T gặp Đức và T2. Tại đây, D nói đã có ma túy rồi, nên chia đều tiền ma túy, tiền thuê phòng cho cả 03 người. Sau khi vào phòng số 02, D lấy ma túy ra bỏ vào 01 cái đĩa trước mặt Đ và T2, nhưng chưa sử dụng mà mở nhạc để nghe. Một lúc sau D chuẩn bị ma túy để sử dụng, thì Đ nói có việc cần về nhà gấp, nên cả 03 thống nhất không sử dụng ma túy mà ra về. D lấy bịch ma túy dạng khay đã được nghiền bỏ vào gói thuốc lá Jet, còn bịch ma túy chưa được nghiền và 02 viên ma túy dạng thuốc lắc được gói trong tờ giấy vệ sinh bỏ vào gói thuốc 555 cầm trên tay. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô biển số 86B8- 763.20 chở D và T2 từ xã T về lại xã Đ. Khi đang đi trên đường Đ, thuộc thôn D, xã Đ, thì bị Công an dừng lại kiểm tra. D bước xuống xe ném gói thuốc 555 vào thùng rác, ném gói thuốc Jet vào chân trụ đèn, thì bị lực lượng Công an phát hiện. Kiểm tra bên trong gói thuốc Jet có 01 bịch nylon kích thước 0,3cm x 0,3cm, hàn kín 3 đầu, 1 đầu có khóa zíp, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Kiểm tra bên trong gói thuốc lá 555 màu xanh do D vứt vào thùng rác phát hiện có 01 bịch nylon hàn kín 3 đầu, 1 đầu có khóa zíp, kích thước 0,3cm x 0,3cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 mảnh giấy vệ sinh được vo tròn, bên trong có 02 viên nén màu xám không rõ hình dạng, có nhiều cạnh. D khai chất bên trong 02 bịch nylon và 02 viên nén thu giữ là chất ma túy, D mua để sử dụng. Công an xã Đ lập biên bản sự việc, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.
Tại Kết luận giám định số 329/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phòng K1- Công an tỉnh B kết luận về đối tượng giám định:
Mẫu M1 gửi giám định chứa chất bột màu trắng bên trong bịch nylon hàn kín 03 đầu, 01 đầu có khóa kéo, kích thước 0,3cm x 0,3cm thu giữ trong gói thuốc lá có chữ Jet có khối lượng 0,8036 gam là Ketamine.
Mẫu M2 gửi giám định chứa tinh thể màu trắng bên trong bịch nylon hàn kín 03 đầu, 01 đầu có khóa kéo, kích thước 0,3cm x 0,3cm thu giữ trong gói thuốc lá hiệu 555 có khối lượng 1,1049 gam là Ketamine.
Mẫu M3 gửi giám định là 02 viên nén màu xám không rõ hình dạng, có nhiều cạnh thu giữ trong gói thuốc lá hiệu 555 có khối lượng 0,5452 gam là MDMA.
Vật chứng thu giữ: Mẫu M1, M2, M3 là lượng ma túy còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 329/1, 329/2, 329/3, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1- Công an tỉnh B, là chất cấm tàng trữ; 01 gói thuốc lá hiệu Jet màu trắng, 01 gói thuốc lá hiệu 555 màu xanh, 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng kích thước 26cm x 15cm không có giá trị sử dụng.
Theo Cáo trạng số 42/CT-VKSÐL-HS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Bùi Quốc D ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Linh để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, giữ nguyên Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo;
-Phạt bị cáo Bùi Quốc D từ 36 đến 42 tháng tù. Tịch thu vật chứng tiêu hủy.
Bị cáo D: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo sớm về với vợ, con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng là ông Nguyễn Kim Đ, Đỗ Văn T1, Hoàng N1. Tuy nhiên lời khai của của họ đã có trong hồ sơ, việc vắng mặt của không ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của vụ án, nên xét xử vắng mặt, theo Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong hồ sơ, như: Biên bản ghi nhận sự việc của Công an xã Đ, biên bản ghi lời khai và bản khai của người làm chứng, Kết luận giám định . . . và phù hợp với vật chứng thu giữ. Có đủ căn cứ kết luận: Với mục đích mua ma túy tàng trữ để sử dụng, nên đêm ngày 10/3/2024, Bùi Quốc D, sinh năm 1998, ở thị trấn Đ, huyện Đ đem theo 02 bịch ma túy có tổng khối lượng 1,9085 gam chất ketamine và 02 viên ma túy có khối lượng 0,5452 gam là MDMA đến quán K ở thôn B, xã T, huyện Đ để sử dụng cùng với Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1999, ở xã T và Đỗ Văn T1, sinh năm 1990, ở xã Đ. Tuy nhiên, khi đến quan Karaoke Vitoria cả 03 không sử dụng ma túy mà quay về lại Đ. Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 11/3/2024, khi D, Đ và T1 về đến khu vực thôn D, xã Đ, thì Công an xã Đ đang đi tuần tra, dừng xe kiểm tra thì phát hiện khối lượng ma túy nêu trên do Bùi Quốc D cất giấu trong 02 gói thuốc lá, nên lập biên bản sự việc và thu giữ tang vật trong vụ án. Khối lượng ma túy thu giữ: 0,5452 gam MDMA, có tỷ lệ 10,904% so với mức tối thiểu (5 gam) quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và 1,9085 gam Ketamine, có tỷ lệ 9,5425% so với mức tối thiểu quy (20 gam) định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tỷ lệ phần % của 02 loại ma túy trên so với lượng ma túy tối thiểu quy định điểm g khoản 2 Điều 249 và điểm 1 khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự, có tổ cộng là 20,4465% nhỏ hơn 100%. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, với tình tiết định tội là: Có 02 chất ma túy trở lên có tổng khối lượng tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm c hoặc điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo thực hiện: Hành vi của bị cáo xâm phạm sự độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Tệ nạn nghiện ma túy đã làm cho một số thanh thiếu niên mất khả năng phấn đấu, học hành và lao động. Việc điều trị nghiện ma túy hiện nay làm tốn nhiều thời gian và vật chất của xã hội. Do đó cần thiết phải có mức án nghiêm khắc cải tạo bị cáo.
[4] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo khai báo thành khẩn, Tại phiên tòa tỏ thái độ hối cải về hành vi phạm tội, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Vào năm 2022 bị cáo đã bị kết án 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, khi chưa được xóa án tích, bị cáo lại phạm tội mới, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Vật chứng trong vụ án: Số lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong các phong bì số 329/1, 329/2 và 329/3, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1- Công an tỉnh B, đây là chất cấm lưu hành và 02 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet và 555, 01 mảnh giấy vệ sinh không có giá trị. Do đó cần tịch thu tiêu hủy theo như điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về nguồn gốc chất ma túy bị cáo khai nhận là mua tại Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng, nhưng không xác định được người bán.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp và có căn cứ. Tuy nhiên, mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là cao, nên cần điều chỉnh cho tương xứng, vì lượng ma túy bị cáo tàng trữ là không lớn.
[8] Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Kể từ khi tiếp nhận tin báo về tội phạm cho đến khi ban hành kết luận điều tra, Điều tra viên thực hiện hành vi tố tụng, ban hành các văn bản tố tụng đúng thẩm quyền, đúng thời hạn và đúng trình tự của Bộ luật Tố tụng hình sự; thực hiện các hoạt động điều tra đúng luật định. Đối với Kiểm sát viên trong quá trình giám sát các hoạt động ở giai đoạn điều tra thực hiện đúng thẩm quyền. Trong giai đoạn truy tố Kiểm sát viên tiến hành hoạt động tố tụng đúng thẩm quyền và trình tự tố tụng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố không có sự khiếu nại gì.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Bị cáo bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 293, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
- Tuyên bố: Bùi Quốc D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Phạt bị cáo Bùi Quốc D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 329/1, 329/2 và 329/3, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1- Công an tỉnh B, đây là chất cấm lưu hành và 02 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet và 555, 01 mảnh giấy vệ sinh, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/9/2024.
- Về án phí: Bùi Quốc D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (23/9/2024), để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- - VKSND huyện Đức Linh
- - CQTHAHS, Bộ phận Hồ sơ – Công an huyện
- - TTLLTP-QG, Sở Tư pháp Bình thuận
- - Chi cục THADS huyện Đức Linh
- - Bị cáo, bị hại, người bào chữa (nếu có)
- - Lưu hồ sơ vụ án + Văn Phòng
|
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Văn Thái |
Bản án số 61/2024/HS- ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 61/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Quốc D mang theo trong người 01 bịch ma túy, Công an tuần tra nghi ngờ kiểm tra phát hiện bịch ma túy D đang cất giấu.
