Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày 22-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Hào

2. Ông Nguyễn Văn Đương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Như H, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1983, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Như Q, sinh năm 1954 và con bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1990; con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt

- Bị hại: Ông Nguyễn Viết L, sinh năm 1939

Nơi cư trú: xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Đã chết

- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại:

Bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1943; chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; anh

Nguyễn Viết D, sinh năm 1979; anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986

Đều cư trú: xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Người đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Viết D, sinh năm 1979

Nơi cư trú: xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt

- Người tham gia tố tụng khác: không

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 5 giờ 10 phút, ngày 06/5/2024 Nguyễn Như H, sinh năm 1983, ở xóm D, xã T, huyện Đ điều khiển xe mô tô BKS: 37B2 - 44469 xuất phát từ nhà đi theo đường nhựa ven đê lên thị trấn huyện Đ để đi làm. Đến khoảng 05 giờ 20 phút, khi xe mô tô do Nguyễn Như H điều khiển đi đến gần khu vực ngã ba giao nhau giữa đường nhựa ven đê và đường bê tông đi vào đền K thuộc xóm A, xã T, Đ thì lúc này có ông Nguyễn Viết L, sinh năm 1936 ở xóm A, xã T, Đ điều khiển xe máy điện đi từ dưới dốc trong đường nhánh bê tông đi ra đường nhựa ven đê theo hướng từ bên phải sang bên trái so với hướng chiều đi của Nguyễn Như H. Do thiếu quan sát, nên Nguyễn Như H không phát hiện thấy ông Nguyễn Viết L đang đi từ dưới dốc đi lên nên vẫn duy trì tốc độ xe đi bình thường như trước đó. Và khi xe mô tô Nguyễn Như H bắt đầu đi vào khu vực ngã ba giao nhau giữa đường bê tông và đường nhựa ven đê thì Nguyễn Như H mới quan sát và phát hiện thấy ông Nguyễn Viết L điều khiển xe máy điện chạy từ dưới dốc đường bê tông đi lên và đang cho xe nhập làn vào đường nhựa để rẽ trái đi về hướng xã T, huyện Đ. Khi phát hiện thấy ông Nguyễn Viết L đang điều khiển xe máy điện nhập vào làn đường nhựa để rẽ trái thì lúc này khoảng cách giữa xe mô tô của Nguyễn Như H và xe máy điện của ông Nguyễn Viết L đã ở cự ly rất gần, nên theo phản xạ Nguyễn Như H đã đạp phanh chân, bóp phanh tay đồng thời đánh tay lái cho xe mô tô chếch sang bên phải theo hướng đi của mình để tránh va chạm với xe máy điện của ông Nguyễn Viết L. Tuy nhiên do khoảng cách là quá gần nên lốp trước xe mô tô của Nguyễn Như H điều khiển đã đâm vào phần giữa bên trái xe máy điện của ông Nguyễn Viết L làm cho ông Nguyễn Viết L ngã xuống đường bị thương và sau đó chết.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Như H đã khai báo thành khẩn và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn được xác định là khu vực giao nhau giữa đường nhựa thuộc xã T với đường nhánh bê tông đi vào xóm A, xã T. Đường

nhựa được rải nhựa tương đối bằng phẳng, đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất đường rộng 9m ở giữa có vạch kẻ đứt quãng màu trắng chia đường thành hai chiều xe chạy mỗi chiều rộng 4,5m chạy theo hướng Bắc – Nam hướng B đi thị trấn Đ hướng N đi xã T. Đường nhánh đi vào xóm A, xã T là đường bê tông rộng 3,2 m chạy theo hướng Đông – Tây. Vị trí tiếp giáp giữa đường nhựa và đường bê tông rộng 4,9m đoạn đường từ đường bê tông tiếp giáp với đường nhựa đường dốc, phía bên phải lề đường bê tông có biển báo giao nhau với đường ưu tiên (biển nề vàng hình tam giác có viền màu đỏ).

Việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

  1. Vết cày không liên tục
  2. Xe mô tô BKS 37B2-444.96
  3. Xe máy điện không gắn biển số
  4. Vũng máu loang trên mặt đường

Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Lấy biển chỉ dẫn vào đền K làm điểm mốc. Lấy mép đường phía Tây của đường nhựa làm mép đường chuẩn.

Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

- Vết cày không liên tục trên mặt đường kích thước (2,3 x 0,03) m chiều hướng từ N – Bắc điểm cuối hơi chếch về phía Tây điểm đầu vết cày cách lề đường phía Tây của đường nhựa (mép chuẩn) 5,3m về phía Đông và cách điểm mốc 0.5m về phía Nam, điểm cuối vết cày trùng với phía dưới vị trí xe mô tô BKS 37B2 - 444.69.

- Xe mô tô BKS 37B2 – 444.69 đang ngã nghiêng hoàn toàn sang trái trên mặt đường nhựa, đầu xe quay về Đông Bắc đuôi xe quay về hướng T. T1 trục bánh trước cách mép đường phía Tây 5,88m về phía Đông và cách điểm mốc 2,5m về phía Bắc; tâm trục bánh sau cách mép đường phía Tây 4,8m về phía Đông.

- Xe máy điện không biển số màu tím than đang ngã nghiêng hoàn toàn sang phải đầu xe quay về hướng Nam đuôi xe quay về hướng Bắc. T1 trục bánh sau của xe cách lề đường phía Tây (mép chuẩn) 4,2m về phía Đông, tâm trục bánh trước của xe cách mép đường phía Tây 4,3m về phía Đông và cách tâm trục bánh sau xe mô tô số (2) 1,1 m về phía Bắc.

- Vùng máu dạng chạy loang trên mặt đường nhựa kích thước (40x45)cm mép phía Tây của vùng máu cách mép đường phía Tây đường nhựa 2,5m về phía Đông, mép phía Nam cách tâm trục bánh sau xe máy điện 0.8m về phía Bắc

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe mô tô BKS 37B2 – 444.69:

- Về giấy tờ, phương tiện:

+ Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Như H số V645453.

+ Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 37B2-444.69 số 096463.

- Dấu vết trên phương tiện:

Cụm đền chiếu sáng bị vỡ nứt nhựa kích thước (19x13)cm cao cách đất 95cm.

Yếm phải phần mép trên bị bung chổi khỏi vị trí cố định.

Mặt nạ xe bị bung chốt liên kết hai bên mép bên phải có dắt mảnh nhựa màu đỏ và lớp xốp.

Yếm trái bị gãy vỡ rời khỏi xe kích thước (56x50)cm.

Mặt bên trái của cần số bị cà xước kim loại bám rỉ sét và chất màu trắng dạng bụi đá đường cao cách đất 20cm.

Mép dưới trước của ốp phía dưới gác chân phía trước bên trái bị cà xước kim loại bám rỉ sét và chất màu trắng dạng bụi đá đường kích thước (8x1)cm.

Mặt bên phải của thanh gạt chân chống giữa bị mài mòn kim loại bám chất màu trắng dạng bụi đá đường kích thước (1x1)cm, cao cách đất 19cm.

Phần ốp nhựa thân bên phải có vùng cà xước mài mòn nhựa kích thước (16x2)cm chiều hướng từ trên xuống dưới cao cách đất 60cm.

Phược phía trước bên trái bị cong biến dạng đẩy lệch từ trước ra sau, cả cụm bánh trước bị đẩy dồn từ trước ra sau.

Lốp trước của xe có rãnh lõm vân lốp rộng 0,3cm.

Mặt ngoài bên trái của giá năng phía sau yên xe có vết cà xước mài mòn kim loại kích thước (3x1)cm.

Kỹ thuật an toàn phương tiện:

Hệ thống điều khiển bị hư hỏng, không kiểm tra được hệ thống phanh.

Xe máy điện số máy JYX60V1550W-A706914:

Dấu vết trên phương tiện:

Phần ốp thân bên trái có vùng cà xước mài mòn nhựa theo nhiều chiều hướng chủ yếu từ trên xuống dưới chếch sau ra trước kích thước (60x16) cm, Cao cách đất 45 cm.

Mặt bên phải của tay ga bên phải bằng kim loại bị cà xước mài mòn kim loại kích thước (3x3) cm, Cao cách đất 96 cm.

Phần ốp thân bên trái và nửa phần sau của ốp bên trái sàn để chân phía trước có vùng nứt vỡ nhựa, bề mạt nhựa bị cà trượt sơn nhựa màu xanh, tại phần

ốp sàn để chân và vùng bám chất màu đen dạng cao su tại phần ốp thân chiều hướng từ trước ra sau kích thước (50x30) cm, cao cách đất 16 cm, vùng bám chất màu đen dạng cao su cao cách đất 35 cm.

Tại ốp thân bên trái có vùng cà trượt bề mặt nhựa chiều hướng từ trước ra sau kích thước (15x8) cm Cao cách đất 57 cm.

Cụm công tắc điều khiển phía bên trái bị bung ra khỏi vị trí cố định.

Mép của yếm trái và ốp mặt sau ốp viền hộc để đò bị bung ra khỏi vị trí cố định và bị nứt vỡ kích thước (50x20) cm, Cao cách đất 32 cm.

Phần khung sắt phía trong vùng nứt vỡ nhựa phía bên trái vùng để chân trước có vết cà trượt bề mặt bám chất màu đen dạng cao su.

Kỹ thuật an toàn phương tiện:

Hệ thống điều khiển, phanh, hoạt động bình thường.

Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Viết L, sinh năm 1939, trú tại xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An:

1. Khám ngoài:

Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:

Mặt sau cẳng tay phải, mu bàn tay phải bị xây xát rách da bầm tụ máu không liên tục kích thước (26x8) cm.

Toàn bộ mặt sau cánh tay trái bị xây xát da bầm tụ máu không liên tục kích thước (23x12) cm.

Từ 1/3 giữa sau cẳng tay trái đến mu bàn ngón tay trái bị xây xát da, bầm tụ máu không liên tục kích thước (28x11) cm.

1/3 giữ trước ngoài đùi trái cách trên đầu gối trái 20 cm cách dưới sau gai chậu trước trên bên trái 19 cm có 01 vùng xây xát da, sưng phù nề bầm tụ máu không liên tục kích thước (22x15) cm.

Vùng đầu phía sau bên trái cách trên sau đỉnh vành tai trái 11cm, cách trên đường chân tóc gáy 09 cm có 01 vùng xây xát da bầm tụ máu không liên tục kích thước (13x6) cm. Trên vùng này có 01 vết thương kích thước (2x1,5) cm, bờ mép không gọn.

Vùng bả vai trái cách dưới bờ vai trái 4 cm cách đường giữa cột sống 15 cm có 01 vùng xây xát da bầm tụ máu không liên tục kích thước (14x8) cm.

2. Mổ tử thi:

+ Đầu: Tương ứng với tổn thương vùng đầu phía sau bên trái tổ chức dưới da bị bầm tụ máu nặng, xương hộp sọ bị vỡ thành nhiều đường, lún, máu trong hộp sọ chảy ra ngoài qua đường vỡ xương và vết thương, vùng vỡ lún đo được có kích thước (10x9) cm.

Giải phẫu đến đây gia đình từ chối giải phẫu các vùng cơ thể khác được hội đồng khám nghiệm đồng ý nên không giải phẫu các vùng khác.

Tại bản kết luận giám định số: 173/ KLGĐ-KTHS(DVCH) ngày 06 tháng 6 năm 2024, Phòng K1 Công An tỉnh N về giám định dấu vết cơ học trong vụ tai nạn giao thông như sau:

+ Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 37B2 – 444.69 di chuyển trên đường nhựa theo hướng từ xã T đi thị trấn Đ. Xe máy điện không có biển số màu tím than di chuyển theo hướng từ phải sang trái chếch từ trước ra sau so với chiều hướng di chuyển của xe mô tô biển kiểm soát 37B2 – 444.69.

+ Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 37B2 – 444.69 và trên xe máy điện không có biển số màu tím than:

- Trên hiện trường: Ở phần đường bên phải đường nhựa theo hướng từ xã T đi thị trấn Đ.

- Trên xe mô tô biển kiểm soát 37B2-444.69: Ở phần phía trước bên trái xe.

- Trên xe máy điện không có biển số màu tím than: Ở phần giữa bên trái xe.

+ Không xác định được tốc độ di chuyển của mô tô biển kiểm soát 37B2 – 444.69 và xe máy điện không có biển số màu tím than ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại bản kết luận giám định số: 114/KLGĐTT-KTHS ngày 12 tháng 5 năm 2024 của Phòng K1 Công An tỉnh N kết luận:

Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Viết L là do vỡ, lún xương hộp sọ; xuất huyết não do chấn thương.

Tại bản kết luận định giá số 22/KL-ĐGTS ngày 28 tháng 05 năm 2024 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

Tổng chi phí sửa chữa của xe mô tô BKS 37B2-444.69 là: 1.880.000đ (Một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).

Tổng chi phí sửa chữa của xe máy điện số máy JYX60V1550W-A706914 là: 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Vật chứng vụ án thu giữ gồm:

Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công An huyện Đ đã thu giữ các vật chứng gồm:

- Xe mô tô BKS 37B2 - 444.69, nhãn hiệu: Yamaha Exciter, màu xanh trắng, số khung: CY-151171, số máy JP11-151184.

- Giấy chứng nhận đăng ký xe số 096463.

- Giấy phép lái xe hạng A1 số mang tên Nguyễn Như H.

- Xe máy điện màu tím than số máy JYX60V1550W-A706914

Về xử lý vật chứng:

- Ngày 03/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ

Trả lại cho Nguyễn Như H các tài sản gồm:

- 01 Xe mô tô BKS 37B2-444.69, nhãn hiệu: Yamaha Exciter, màu xanh trắng, số khung: CY-151171, số máy JP11-151184.

- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 096463.

Trả lại cho anh Nguyễn Viết D người đại diện hợp pháp cho bị hại ông Nguyễn Viết L xe máy điện màu tím than số máy JYX60V1550W-A706914.

Đối với giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Như H hiện đang được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự:

Sau khi sự việc xẩy ra bị can Nguyễn Như H đã thỏa thuận bồi thường một lần đầy đủ cho đại diện hợp pháp gia đình bị hại với số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

Bản cáo trạng số 72/CT-VKS-ĐL ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Như H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Như H thừa nhận hành vi phạm tội như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, sau khi phạm tội bị cáo và gia đình đã đến xin lỗi gia đình bị hại, đã thỏa thuận và bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự và gia đình bị hại có đơn xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Anh Nguyễn Viết D là người đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày từ khi xẩy ra tai nạn cho đến nay gia đình bị cáo thường xuyên đi lại, quan tâm, thăm hỏi, động viên và hai gia đình đã thỏa thuận xong về bồi thường trách nhiệm dân sự tại phiên tòa không yêu cầu bồi thường về phần trách nhiệm dân sự, gia đình đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ nhất về tội danh cho bị cáo để bị cáo làm ăn, giúp đỡ cho gia đình bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Như H từ 12 tháng 15 tháng tù, về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo,

thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Như H.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Nguyễn Như H 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Như H, số giấy phép: V645453 do sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 02/6/2005

Về phần dân sự:

Người đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận đầy đủ tiền bồi thường trách nhiệm dân sự và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đề nghị không xem xét.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của đại diện hợp pháp cho người bị hại: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho người bị hại Bà Nguyễn Thị Q1; Chị Nguyễn Thị T; Anh Nguyễn Văn S; tuy nhiên Anh Nguyễn Viết D là người đại diện theo ủy quyền có mặt, xét bà Q1, chị T, anh S vắng mặt không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Do vậy Căn cứ vào các Điều 292, Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Như H khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp các chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đặc biệt là kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các kết luận giám định. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 05 giờ 10 phút, ngày 06 tháng 5 năm 2024 Nguyễn Như H, có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37B2 - 444.69 từ nhà ở xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An đi lên thị trấn huyện Đ để làm việc. Đến khoảng 05 giờ 20 phút cùng ngày khi Nguyễn Như H điều

khiển xe mô tô đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường nhựa ven đê và đường bê tông đi vào đền K thuộc xóm A, xã T, Đ do không chú ý quan sát nên xe mô tô do Nguyễn Như H điều khiển đã đâm vào xe máy điện do ông Nguyễn Viết L, điều khiển đi từ trong hướng đền K đi ra. Hậu quả ông Nguyễn Viết L bị thương và sau đó chết. Tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo Nguyễn Như H là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không chú ý quan sát gây tại nạn làm chết 01 người của bị cáo Nguyễn Như H đã vi phạm vào Điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, nên hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương.

[4]. Xét tính chất, nhân thân:

Xét tính chất vụ án, nhân thân: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của những người tham gia giao thông. Ngoài ra còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Bị cáo nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm tội mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại (là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự); gia đình bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có cha Nguyễn Như Q và mẹ Nguyễn Thị P được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất (là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự)

Hội động xét xử xét thấy: bị cáo phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình

phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận và thực hiện xong phần bồi thường dân sự, đại diện cho bị hại, anh Nguyễn Viết D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm phần trách nhiệm dân sự. Xét việc các bên đã tự thỏa thuận về phần trách nhiệm dân sự và không yêu cầu Tòa án giải quyết phần trách nhiệm dân sự là tự nguyện nên cần tôn trọng, nên không xem xét.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Ngày 03/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho Nguyễn Như H các tài sản gồm:

- Xe mô tô BKS 37B2-444.69, nhãn hiệu: Yamaha Exciter, màu xanh trắng, số khung: CY-151171, số máy JP11-151184.

- Giấy chứng nhận đăng ký xe số 096463.

Trả lại cho anh Nguyễn Viết D, con trai của người bị hại ông Nguyễn Viết L xe máy điện màu tím than số máy JYX60V1550W-A706914.

Xét việc trả lại các tài sản là đúng quy định pháp luật, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định giấy tờ hợp pháp của bị cáo có trong hồ sơ vụ án do đó cần tuyên trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Như H, số giấy phép: V645453 do Sở G cấp ngày 02/6/2005

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của HĐXX nên được chấp nhận.

[10]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Như H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Như H 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Như H cho UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2]. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Như H, số giấy phép: V645453 do Sở G cấp ngày 02/6/2005 có trong hồ sơ vụ án.

[3]. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Như H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đô Lương;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Đô Lương;
  • - THADS huyện Đô Lương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện theo ủy quyền;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ VĂN ĐẠT

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger