Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày 21/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Phạm Thúy Hằng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà và bà Dương Thị Kim Hồng.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Hạnh– Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh ngày 09/05/1971; Nơi sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn L, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 03/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Bùi Văn N (đã chết) và con bà Nguyễn Thị C (đã chết); có vợ và 02 con sinh các năm 1992 và 1995; Tiền án, tiền sự: Không; hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

* Bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1969 (đã chết).

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; Anh Nguyễn Văn H1; sinh năm 1993; Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 2004.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993.

Đều có địa chỉ: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Đều vắng mặt, anh Hợp đề n xét xử vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Quang T1, sinh năm 1982;

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Vũ Thị T2, sinh năm 1987;

Đều có địa chỉ: tổ F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Đều vắng mặt, chị T2 đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

* Người làm chứng: Chị Đỗ Thị H3, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn L, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn T có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 02/7/2019, có giá trị đến ngày 02/7/2029. Trưa ngày 20/01/2024, T ăn liên hoan tất niên tại nhà bà Trần Thị C1, ở thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương. Sau đó, T điều khiển xe ô tô 05 chỗ, nhãn hiệu HUYNDAI- TUCSON, biển số 34A- 656.84 để về nhà ở thôn L, xã Q, huyện N. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đến đoạn đường trước khu vực nhà bà C1 thuộc thôn Đ hướng thôn T, xã Q, huyện N, đây là đoạn đường thẳng được trải bê tông tương đối bằng phẳng, mặt đường rộng 7m, hai bên đường có nhà dân ở sát nhau và sát mép đường. Phía bên phải đường hướng thôn T đi Quốc lộ C có lối mở đi về hướng thôn Đ, xã Q rộng 8m; bên trái có lối mở đi thôn L, xã Q rộng 5m. Lúc này T quan sát phía trước thấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, biển số 34B2- 274.82 đang đỗ ngang lòng đường, ông Nguyễn Văn Q đang ngồi trên xe mô tô, anh Nguyễn Quang T1 đứng bên cạnh và quay mặt về phía ông Q. Đứng phía sau xe mô tô còn có 02 người khác. Do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên xe ô tô do T điều khiển đã đâm và đẩy anh T1 và ông Q cùng xe mô tô biển số 34B2- 274.82 về phía trước đến sát bức tường nhà dân và cột điện cạnh đường thì dừng lại. Hậu quả: Ông Q bị thương được mọi người đưa đến Trung tâm y tế huyện N cấp cứu, nhưng do thương tích nặng nên đã tử vong hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày; anh T1 bị thương được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Q điều trị từ ngày 20/01/2024 đến ngày 02/02/2024 thì ra viện.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, phương tiện xác định: Hiện trường là đoạn đường thẳng, tại ngã tư đường trục thôn T, xã Q, huyện N; hiện trường không còn nguyên vẹn, người bị thương đã được đưa đi cấp cứu. Trên hiện trường để lại các dấu vết sau: Vết vân lốp xe ô tô in lại trên mặt đường có kích thước 10m80 x 18cm, đầu vết hướng thôn T đo vào mép đường bên phải là 3m10, cuối vết hướng Quốc lộ C đo vào mép đường bên phải là 2m95; vết cà xước đứt đoạn kích thước 1m60 x 0,5cm, đầu vết hướng thôn T đo vào mép đường bên phải được 3m12, cuối vết hướng Quốc lộ C đo vào mép đường bên phải là 2m95; vết miết cao su mặt đường kích thước 7m30 x 2,5cm, đầu vết hướng thôn T đo vào mép đường bên phải là 4m10, cuối vết hướng Quốc lộ C đo vào mép đường bên phải là 4m62. Vùng máu loang có kích thước 2m70 x 40cm, tâm vùng máu đo vào mép đường bên phải là 7m10. Xe ô tô biển số 34A- 656.84 đỗ trên đường, đầu xe hướng Quốc lộ C, đuôi xe hướng thôn T, xã Q, mặt dưới ba đờ sốc có vùng va đập làm nứt vỡ nhựa, kích thước 15cm x 7cm. Toàn bộ phần ốp nhựa của gầm máy phía trước do lực tác động làm bẹp méo kích thước 1m x 20cm, hướng dấu vết từ trước về sau. Xe mô tô biển số 34B2- 274.82 đổ nghiêng sang phải đầu xe hướng thôn L, sau xe hướng thôn Đ, bàn để chân người lái bên trái do lực tác động bị biến dạng cong vênh từ trái qua phải, từ dưới lên trên ép sát vào sườn xe.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 19/KLGĐTT-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K- Công an tỉnh H, kết luận nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn Q là do chấn thương ngực kín (chảy máu khoang ngực, dập rách nhu mô phổi, gãy nhiều xương sườn).

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 182/KLTTCT ngày 14/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q xác định tỷ lệ tổn thương của anh Nguyễn Quang T1 là 07% (bẩy phần trăm).

Kết luận định giá tài sản: xe ô tô biển số 34A- 656.84 bị thiệt hại giá trị 3.455.500 đồng; xe mô tô biển số 34B2- 274.82 bị thiệt hại giá trị 1.373.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N đã quản lý 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh vụ tai nạn được trích xuất từ Camera hành trình gắn trên xe ô tô biển số 34A- 656.84 do T điều khiển có nội dung: Thời điểm 12 giờ 15 phút 52 giây hình ảnh xe ôtô có gắn Camera hành trình di chuyển theo hướng từ thôn T, xã Q đi Quốc lộ C, bên trái đường sát nhà dân có nhiều xe máy dựng, ngay vị trí giữa đường có một người đứng quay mặt về phía Quốc lộ C (anh T1) nói chuyện với người ngồi trên xe máy (ông Q) bên cạnh còn hai người đang đứng. Thời điểm 12 giờ 16 phút 13 giây xuất hiện hình ảnh xe máy hướng ngược chiều đi đến, đi ở vị trí chiều bên phải xe ôtô do T điều khiển. Hình ảnh xe ô tô đi sang bên trái đâm vào ông Q và anh T1 đứng trên đường, đẩy xe mô tô, ông Q và anh T1 về phía trước đến sát bờ tường nhà dân thì dừng lại.

Kết luận giám định dữ liệu Kỹ thuật số - điện tử số 874/KL-KTHS ngày 29/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa tệp video FILE240120-121552.AVI, dung lượng 25.8MB, mã MD5: 5ca0d40fb2892854bcbd1871bc5c9f47 gửi giám định.

Phiếu kiểm tra nồng độ cồn hồi 22h16' ngày 20/01/2024 đối với Bùi Văn T xác định: Nồng độ cồn 0.000mg/L.

Văn bản số 12171 ngày 12/6/2024 của Cục Q1 - Bộ C2 xác định: Anh Nguyễn Quang T1 đã sử dụng hộ chiếu E00736369 để xuất cảnh ngày 14/3/2024 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Tại Cáo trạng số 60/CT-VKSHD- P2 ngày 08/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi như đã trình bày tại Cơ quan điều tra và đã được nêu trong bản cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm một người chết và một người bị thương tích là 7%. Bị cáo bị truy tố, xét xử là đúng, không bị oan. Bị cáo đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của anh T1 và gia đình ông Q. Bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xém xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa đương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Văn T, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T3 phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 12 đến 15 tháng tù, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe mang tên Bùi Văn T khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Anh Nguyễn Quang T1 vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho vợ là chị Vũ Thị T2 tham gia tố tụng; Anh Nguyễn Văn H1, chị Vũ Thị T2 là đại diện hợp pháp của các bị hại và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt nhưng đều đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và đại diện của bị hại, người làm chứng, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm xe ô tô và xe mô tô, dữ liệu điện tử đã thu giữ đã được bị cáo xác nhận và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 20/01/2024, tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn Đ hướng thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương đi ra Quốc lộ C, Bùi Văn T điều khiển xe ô tô biển số 34A- 656.84 trên đoạn đường có chướng ngại vật ở lòng đường (Xe mô tô biển số 34B2- 274.82 đang đỗ và nhiều người đang đứng) và đến khu vực đường giao nhau, bị cáo không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, đã đâm và đẩy ông Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Quang T1 và xe mô tô về phía trước đến sát tường nhà dân bên đường thì mới dừng lại, làm ông Q tử vong, anh T1 bị tổn thương cơ thể 07%, xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại 1.373.000đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân đã được học Luật giao thông đường bộ, được cấp giấy phép lái xe hạng B2 nhưng khi điều khiển xe ô tô, bị cáo đã không tuân thủ các quy định về tham gia giao thông đường bộ đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ; Khoản 1 Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của bị hại, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn khi tham gia giao thông đường bộ tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của anh T1 và gia đình ông Q; bị hại và đại diện của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có bố đẻ là ông Bùi Văn N là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất và hạng Ba. Trong vụ án này, bị hại là ông Q và anh T1 cũng có lỗi một phần khi đỗ xe mô tô và đứng dưới lòng đường, vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, ngoài lần vi phạm này thì bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. HĐXX thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo cải tạo giáo dục bị cáo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm hành nghề lái xe tuy nhiên do bị cáo là trụ cột chính trong gia đình, không hành nghề lái xe nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông Q tổng số tiền 400 triệu đồng; bồi thường cho anh T1 40 triệu đồng. Tại giai đoạn xét xử, người đại diện hợp pháp của ông Q, anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.

[9]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N đã trả lại xe ô tô biển số 34A- 656.84; đăng ký xe; chứng nhận kiểm định; chứng nhận bảo hiểm cho bị cáo T; trả xe mô tô biển số 34B2- 274.82 cùng các giấy tờ cho anh Nguyễn Văn H1. Tại giai đoạn xét xử, các chủ sở hữu của tài sản không có yêu cầu gì khác đối với các tài sản trên nên hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với giấy phép lái xe ô tô số [...] của bị cáo Bùi Văn T hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án, do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại bị cáo Giấy phép lái xe là phù hợp.

[10] Bị cáo bị phạt tù cho hưởng án treo nên cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn T4 theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  2. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Bùi Văn T cho cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Trả lại bị cáo Bùi Văn T giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 02/7/2019, có giá trị đến ngày 02/7/2029 mang tên Bùi Văn T.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cơ quan CSĐT - CA huyện Nam Sách;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TANDTC;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, đại diện bị hại;
  • - Lưu: HSVA, THS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger