|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21/6/2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đoàn Văn Vui
- Ông Đoàn Văn Lắm
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 88/2024/TLST – HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 24/5/2024, quyết định hoãn phiên toà số 67/2024/QĐST – HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1982 (xin vắng);
Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Lê Văn Bé N, sinh năm 1982 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:
Chị và anh Lê Văn Bé N tự tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện M (nay là huyện M), tỉnh Bến Tre ngày 07/5/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vả dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, gia đình hai bên cũng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành nay chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn Bé N. Về con chung: có 02 con chung tên Lê Văn Hoài A, sinh ngày 18/8/2007 và Lê Thị Tuyết N1, sinh ngày 16/02/2012 hiện đang sống với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh B Năm cấp dưỡng nuôi 02 con. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn Bé N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến của mình.
Tại phiên toà Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm kiểm sát: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ L; về con chung: chị Nguyễn Thị Mỹ L được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Lê Văn Hoài A, sinh ngày 18/8/2007 và Lê Thị Tuyết N1, sinh ngày 16/02/2012, anh Lê Văn Bé N không phải cấp dưỡng nuôi 02 con do chị Mỹ L không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Bị đơn anh Lê Văn Bé N có địa chỉ cư trú tại xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre nên căn cứ khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Chị Nguyễn Thị Mỹ L có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Lê Văn Bé N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Lê Văn Bé N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không vi phạm các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị Mỹ L cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vả dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, gia đình hai bên cũng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành nay chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn Bé N. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần cho các đương sự được biết để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Bé N vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh chị đã không còn mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc và đã để mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mỹ L đối với anh Bé N là phù hợp.
Về nuôi con chung: có 02 con chung tên Lê Văn Hoài A, sinh ngày 18/8/2007 và Lê Thị Tuyết N1, sinh ngày 16/02/2012, hiện đang sống với chị Mỹ L. Xét thấy, để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của con chung, cần tiếp tục giao Hoài A và Tuyết N1 cho chị Mỹ L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng như yêu cầu của chị là phù hợp. Ghi nhận chị Mỹ L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị Mỹ L xác định giữa vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[3] Xét quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.
Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Lê Văn Bé N.
[2] Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung tên Lê Văn Hoài A, sinh ngày 18/8/2007 và Lê Thị Tuyết N1, sinh ngày 16/02/2012, hiện cháu Hoài A và cháu Tuyết N1 đang sống chung với chị Mỹ L (phù hợp với nguyện vọng của cháu Hoài A và Tuyết N1 tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên đề ngày 26/4/2024), anh Lê Văn Bé N không phải cấp dưỡng nuôi 02 con do chị Mỹ L không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày không có nên không đề cập.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch:
Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003194 ngày 27/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên không phải nộp thêm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Nhớ |
4
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 61/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ Linh. Chị Nguyễn Thị Mỹ Linh được ly hôn với anh Lê Văn Bé Năm. [2] Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ Linh được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung tên Lê Văn Hoài An, sinh ngày 18/8/2007 và Lê Thị Tuyết Như, sinh ngày 16/02/2012, hiện cháu Hoài An và cháu Tuyết Như đang sống chung với chị Mỹ Linh (phù hợp với nguyện vọng của cháu Hoài An và Tuyết Như tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên đề ngày 26/4/2024), anh Lê Văn Bé Năm không phải cấp dưỡng nuôi 02 con do chị Mỹ Linh không có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ Linh trình bày không có nên không đề cập.
