Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:20/2025/HS-ST

Ngày 05/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thuý Hà và bà Lê Thị Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang M - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS, ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Chu Văn L, sinh ngày 15/01/1983 tại tỉnh Tuyên Quang.

Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ dân phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn T, sinh năm 1959 và bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Quyết định xử phạt hành chính số 000747/QĐ-XPHC ngày 31/5/2023 của Công an phường T, thành phố T xử phạt Chu Văn L 1.500.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (L chưa thi hành).

- Nhân thân:

  • + Quyết định xử phạt hành chính số 0007001 ngày 15/8/1999 của Công an thị xã T phạt tiền 50.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2002/HS-ST ngày 31/5/2002 của Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang xử phạt Chu Văn L 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng, về tội Trộm cắp tài sản.
  • + Quyết định số 1950/QĐ-CT ngày 17/11/2008 của UBND thị xã T: Quyết định về việc đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện ma túy bắt buộc tại Công trường 06, thị xã T đối với Chu Văn L.
  • + Quyết định xử phạt hành chính số 244/QĐ-XPHC ngày 19/6/2017 của Công an thành phố T phạt tiền 2.000.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + Quyết định số 32/QĐ-UBND ngày 09/02/2017 của UBND phường T, thành phố T: Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Hình thức: Cai nghiện tự nguyện tại gia đình đối với Chu Văn L.
  • + Quyết định số 256/QĐ-UBND ngày 17/10/2019 của UBND phường T, thành phố T: Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Hình thức: Cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng đối với Chu Văn L.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh T)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/10/2024, Chu Văn L, trú tại tổ dân phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang một mình đi xe khách từ bến xe T sang khu vực bến xe tỉnh T, mục đích để mua ma túy (Heroin) về sử dụng. Đến nơi, L gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm tên T1 (không biết họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể), L nhờ T1 mua hộ 500.000 đồng tiền H và trả công cho T1 50.000 đồng. T1 đồng ý, cầm tiền và bảo L ngồi đợi. Khoảng 15 phút sau T1 quay lại đưa cho L 01 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất vón cục màu trắng. L cất gói ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi xe khách về thành phố T. Khi đi đến khu vực tổ dân phố A, phường, P thành phố T xuống xe và đi bộ vào khu vực bờ hồ gần Đ tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ tỉnh Tuyên Quang tìm chỗ vắng người lấy một ít ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng cách đốt, hít vào cơ thể. Số ma túy còn lại L cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ ra đường tìm bắt xe ôm về nhà. Khi L đang đi bộ đến khu vực tổ dân phố H, phường M, thành phố T thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T kiểm tra, L tự nguyện giao nộp 01 gói ma túy có đặc điểm như trên. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với L, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.

Tại Kết luận giám định số: 1448/KL-KTHS ngày 28/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy; loại Heroin; khối lượng 0,135g (Không phẩy một ba năm gam).

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Chu Văn L 01 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng có khối lượng 0,135g (Không phẩy một ba năm gam), sau khi thu mẫu giám định khối lượng còn lại là 0,085g (Không phẩy không tám năm gam) cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi “Tang vật vụ Chu Văn L, giám định ngày 23/10/2024, mặt sau tại các mép dán có chữ ký của Chu Văn L cùng thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSTP ngày 23 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Chu Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Chu Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Chu Văn L từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/10/2024. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Về xử lý vật chứng (tịch thu, tiêu hủy số heroin còn lại sau giám định). Tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho bị cáo Chu Văn L theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Chu Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh T; bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 23/10/2024, tại tổ dân phố H, phường M, thành phố T, Chu Văn L, trú tại tổ dân phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,135g (không phẩy một ba năm gam) Heroin, mục đích để sử dụng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để sử dụng cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chu Văn L không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có nhân thân xấu nhưng vẫn không cố gắng, không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, tài sản riêng không có giá trị nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS.

[6]. Về vật chứng: Đối với khối lượng ma túy còn lại (sau khi giám định) đã thu giữ của bị cáo được niêm phong theo quy định đây là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

* Đối với người đàn ông tên T1 làm nghề xe ôm đã bán ma túy cho L vào ngày 23/10/2024 tại bến xe khách tỉnh Thái Nguyên (theo khai nhận của Chu Văn L do không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Chu Văn L ngày 23/10/2024, Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 002186/QĐ-XPHC ngày 04/11/2024 của Công an thành phố T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền.

[7]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự

-Xử phạt: Bị cáo Chu Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/10/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi “Tang vật vụ Chu Văn L giám định ngày 23/10/2023”, mặt sau tại các mép dán có chữ ký của Chu Văn L cùng thành phần tham gia giám định và 05 (năm) hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh T, bên trong bì có 0,085g (Không phẩy không tám năm gam) chất ma tuý, loại heroine (số lượng còn lại sau giám định cùng bao gói.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 06/02/2025).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về án phí: Buộc bị cáo Chu Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Chu Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND TP Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thảo – Lý Thuý Hà

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HÌNH SỰ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger