|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2025/DS-ST Ngày: 24-6-2025 V/v T/c hợp đồng hóp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Quốc Văn
Ông Nguyễn Văn Chính
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 354/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 150/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1973, có mặt
- Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1978, có mặt
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1988, vắng mặt
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 24/12/2024 và tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị H trình bày:
Bà B có làm chủ hụi, vợ chồng ông bà tham gia góp hụi, cụ thể như sau:
- Dây 1: Mở ngày 05/3/2022 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng, gồm 22 chân. Ông bà tham gia 01 chân, đã đóng hụi được 15 lần. Đến tháng 5/2023 âm lịch thì bà B tuyên bố ngừng hụi và không thanh toán tiền hụi cho ông bà với số tiền là 1.000.000 đồng x 15 lần = 15.000.000 đồng.
- Dây 2: Mở ngày 24/7/2022 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng, gồm 21 chân. Ông bà tham gia 02 chân, đã đóng hụi được 12 lần. Đến tháng 5/2023 âm lịch thì bà B tuyên bố ngừng hụi và không thanh toán tiền hụi cho ông bà với số tiền là 1.000.000 đồng x 12 lần x 02 chân = 24.000.000 đồng.
- Ngoài ra, vào ngày 13/9/2022 âm lịch, ông bà có mua của bà B 01 chân hụi loại 1.000.000 đồng với giá 16.000.000 đồng. Bà B hứa sẽ thanh toán cho ông bà 30.000.000 đồng sau khi kết thúc hụi, trừ tiền hoa hồng 600.000 đồng và tiền 01 chân hụi ông bà đã tham gia, còn lại 28.400.000 đồng. Chân hụi này nằm trong dây hụi thứ hai mở ngày 24/7/2022 âm lịch nên ngừng hụi ở kỳ thứ 12.
- Ngày 07/4/2022 âm lịch, ông bà có mua của bà B 01 chân hụi loại 1.000.000 đồng với giá 15.000.000 đồng. Bà B hứa sẽ thanh toán cho ông bà 30.000.000 đồng sau khi kết thúc hụi, trừ tiền hoa hồng 600.000 đồng và tiền 01 chân hụi ông bà đã tham gia, còn lại 28.400.000 đồng. Chân hụi này nằm trong dây hụi thứ nhất mở ngày 05/3/2022 âm lịch nên ngừng hụi ở kỳ thứ 15.
Tại phiên toà, ông M, bà H yêu cầu bà B thanh toán tiền hụi còn thiếu là 15.000.000 đồng + 24.000.000 đồng + 16.000.000 đồng + 15.000.000 đồng. Tổng cộng là 70.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Bà Huỳnh Thị H, ông Nguyễn Văn M khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị B thanh toán tiền hụi nên đây là tranh chấp hợp đồng góp hụi. Bà B có địa chỉ tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông M, bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Bà B vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự này.
- Theo các tài liệu nguyên đơn cung cấp là các danh sách hụi và các biên nhận giao nhận tiền hụi thể hiện ông M, bà H có tham gia 03 chân hụi và mua 02 chân hụi do bà B làm chủ hụi. Do đó, xác định các đương sự có tham gia giao dịch hụi với nhau là có thật và hợp pháp.
Quá trình tham gia góp hụi, Ông M, bà H đã đóng hụi cho bà B đối với 01 chân hụi trong dây hụi mở ngày 05/3/2022 (âm lịch) là 15 kỳ với số tiền 15.000.000 đồng; đóng hụi cho bà B đối với 02 chân hụi trong dây hụi mở ngày 24/7/2022 (âm lịch) là 12 kỳ với số tiền 24.000.000 đồng. Ngoài ra, ông bà đã thực tế bỏ ra số tiền 16.000.000 đồng để mua 01 chân hụi vào ngày 13/9/2022 âm lịch, bỏ ra số tiền 15.000.000 đồng để mua 01 chân hụi vào ngày 07/4/2022 âm lịch. Các khoản tiền này đến nay bà B không thanh toán lại cho bà H, ông M. Xét thấy, việc bà B không thanh toán tiền hụi cho ông M, bà H là vi phạm thỏa thuận góp hụi và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông M, bà H. Mặc khác, bà B cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông M, bà H. Do đó, cần buộc bà B thanh toán cho ông M, bà H số tiền hụi còn nợ tổng cộng là 70.000.000 đồng.
- Về lãi suất chậm thi hành án đối với nghĩa vụ thanh toán tiền: Bà B phải chịu theo quy định pháp luật.
- Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí.
- Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 471, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị B thanh toán tiền nợ hụi.
Buộc bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị H số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Kể từ ngày ông M, bà H có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bà B chậm thanh toán khoản tiền nói trên thì bà B còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà B phải chịu 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Ông M, bà H không phải chịu án phí. Ngày 25/12/2024, ông M, bà H có nộp tạm ứng án phí số tiền 2.365.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0016721 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.
- Ông M, bà H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà B vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bảo Trâm |
Bản án số 61/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 61/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Mười - Nguyễn Thị Bé: Hụi
