Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-PT

Ngày 16 - 6 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Bằng; Phạm Tiến Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo Trần Văn V, Trần Văn T, Trần Thanh H, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (viết tắt bản án sơ thẩm).

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Văn V, sinh ngày 05/10/1992; tại thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị T2; có vợ là Dương Thị H1 và 01 người con, sinh năm 2009; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: ngày 20/10/2015 bị Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (đã chấp hành xong bản án, xoá án tích); bị bắt tạm giữ, tạm giam: không; có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo V: Bà Dương Thị H1, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; là vợ của bị cáo; có mặt.

2. Trần Văn T (tên gọi khác: Tâm S), sinh ngày 26/10/1990; tại thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị T2; có vợ là Nguyễn Thị Ngân H2 và 02 người con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020); tiền sự: không; tiền án: có 02 tiền án; ngày 22/3/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, theo Bản án số 04/2027/HSST (chấp hành xong hình phạt ngày 02/10/2018, chưa chấp hành trách nhiệm bồi thường, chưa xoá án tích); ngày 25/6/2021 bị Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang xử phạt 50.000.000 đồng về tội Đánh bạc, theo Bản án số 48/2021/HSPT (chưa chấp hành hình phạt, chưa xoá án tích); nhân thân: ngày 01/3/2011 bị Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 năm tù, cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích, theo Bản án số 04/2011/HSST (chấp hành xong 08/9/2012, xoá án tích); ngày 07/3/2019 bị Công an thành phố V, tỉnh Hậu Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị bắt tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến 30/12/2023 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.

3. Trần Thanh H, sinh ngày 22/4/1988; tại thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn E và bà Võ Tuyết N; chung sống không đăng ký kết hôn với Ngô Thị Ngọc H3; có 01 người con, sinh năm 2006; tiền sự: không; tiền án: có 01 tiền án, ngày 22/3/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xử phạt 02 năm tù, cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích, theo Bản án số 02/2017/HSST (chấp hành xong hình phạt ngày 22/3/2021, chấp hành xong trách nhiệm dân sự ngày 05/7/2024, chưa xoá án tích); nhân thân: xấu; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 29/12/2023 chuyển tạm giam đến ngày 09/8/2024 cho bảo lĩnh tại ngoại đến nay; có mặt.

Ngoài ra vụ án còn có các bị cáo Hứa Văn L, Trần Điền C, Huỳnh Chi L1, Nguyễn Thành T3, Dư T, Phạm Văn T4, Hứa Thị M, Nguyễn Trường P, Đoàn Hải K, Nguyễn Huỳnh C1, Trần Văn T5, Dương Thanh D, Lê Chí C2, Nguyễn Phạm Hoàng L2, Nguyễn Nhật T6, Bùi Quốc T7, Bùi Hữu N1; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 ngày 20/12/2023, Hứa Văn L, Hứa Thị M, Lê Chí C2, Trần Điền C, Bùi Quốc T7, Bùi Hữu N1, Dương Thanh D, Nguyễn Phạm Hoàng L2, Phạm Văn T4, Nguyễn Nhật T6, Trần Văn T5, Dư Thái A nhậu tại quán của L ngay góc chợ cũ phường V thuộc khu V, phường V, thành phố V. Còn nhóm của V gồm: Trần Văn V, Nguyễn Thành T3, Đoàn Hải K và Huỳnh Chi L1 nhậu tại quán của K ngay bờ kè thuộc khu V, phường V, thành phố V.

Trong lúc nhậu L và V gọi điện thoại nói chuyện với nhau về vấn đề xảy ra mâu thuẫn trước đó, nên cả hai hẹn nhau gặp mặt nói chuyện. Sau khi tắt điện thoại, L kêu cả nhóm đang nhậu chung về nhà M là chị ruột L trong hẻm nối giữa đường M và hẻm A thuộc khu V, phường V, thành phố V để chuẩn bị hung khí là dao tự chế.

Về phía V, sau khi tắt điện thoại thì gọi cho Trần Thanh H biết việc hẹn L nói chuyện. Sau khi nghe điện thoại của V thì H sợ có chuyện nên gọi cho T3 là anh ruột của V biết. Đồng thời, L1 cũng gọi cho C1 và P ra đi chung. Sau khi biết sự việc T3, H, C1, P lần lượt ra để tiếp V và L1. Sau đó, C1, P đến nơi V trước nên cùng V, T3 (T3 beo), L1 đi trước và K cũng đi theo sau hỗ trợ. Khi đi P, C1 và L1 mang theo dao tự chế để thủ thân nếu bị phía Lái chuẩn bị sẵn hung khí thì chém lại.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của V đến quán của L nhưng không thấy ai nên chạy đến hẻm A nơi L thuê nhà ở. Tại đây, không gặp nên vòng ra đường M đến hẻm nối sang hẻm A thì gặp nhóm của L đang ở nhà của M và C2. Do có sử dụng rượu bia trước đó và thấy đối phương có mang theo dao tự chế nên Huỳnh Chi L1 và Phạm Văn T4 cầm dao tự chế xông lên chém nhau. Khi đó, V, T3 (T), P, C1 cũng cầm dao tự chế xông lên tiếp L1. Lái, M, C2, C, T7, N1, D, L2, T6, A và Trần Văn T5 cũng cầm dao tự chế xông lên tiếp Phạm Văn T4. Khi đó, H cũng vừa đến nên cũng nhặt cây dao ngay hiện trường xông lên tiếp V còn K thì cầm dao đứng sau hỗ trợ. Lăng chém C2 bị thương tích phần đầu còn L2 chém L1 bị thương tích phần đầu và tay nên L1 được P đưa đi bệnh viện, C1 và Phạm Văn T4 về trước. Những người còn lại không ai chém gây thương tích cho ai. Hai bên chém nhau một lúc thì ngưng, đứng nói chuyện. Khi đó, Lê Chí B là con của C2 có mặt nhưng đứng ngoài xem và thấy cha mình bị chém nên bức xúc, chửi thề về nhóm của V khoảng 01 đến 02 tiếng. Trong lúc hai bên đứng nói chuyện thì Trần Văn T (T sói) điều khiển xe một mình đến trên tay cầm theo một cây dao xông vào nên bên phía L nghĩ là chém mình nên cũng cầm dao tự chế chém lại. Hai bên tiếp tục lao vào chém nhau một lúc thì ngưng và hai bên tự rút về. K do C gây thương tích gây ngón tay còn V bị thương tay trái, M bị thương hai tay và T bị thương đầu thì không xác định được ai gây thương tích.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 (một) cây dao tự chế dài 49cm, phần cán bằng gỗ được quấn băng keo dài 16cm, phần lưỡi bằng kim loại, dài 33cm.
  • 01 (một) cây dao tự chế dài 49cm, phần cán bằng gỗ dài 13cm, phần lưỡi bằng kim loại, dài 36cm.
  • 01 (một) cây dao tự chế dài 52cm, phần cán bằng gỗ được quấn băng keo dài 13cm, phần lưỡi bằng kim loại, dài 42cm.
  • 01 (một) cây dao tự chế dài 81cm, phần cân bằng kim loại dài 23cm, phần lưỡi bằng kim loại, dài 58cm. được quấn dây cao su.
  • 03 (ba) cây dao tự chế để trong một cái bao, màu vàng.
  • 02 (hai) cây đinh ba bằng kim loại, một cây dài 2,23m và một cây dài 2,57m, phần đầu hai cây đều có ba mũi, được mài nhọn.
  • 01 (một) cây ba ton (dũ ba khúc) bằng kim loại dài 63cm, có cán ốp nhựa dài 23cm.
  • 01 (một) áo khoác màu cam, có dòng chữ NEVER SAY DIE, có dính vết máu.
  • 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, loại nón kết.
  • 01 (một) cây dao yếm dài 25cm, phần cân bằng gỗ dài 10cm, phần lưỡi bằng kim loại, dài 15cm.
  • 01 (một) nón kết vải màu xám trắng có dòng chữ Rebet Spirit, màu đỏ.
  • 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, loại nón kết.
  • 01 (một) cây dao tự chế dài 73,2cm, phần cán bằng gỗ được quấn vải màu đen-hồng dài 23cm, phần lưỡi bằng kim loại, dài 50,2cm.
  • 01 (một) bao vỏ bằng gỗ của dao tự chế màu nâu, dài 40,5cm.
  • 01 (một) cây dao tự chế dài 91cm, phần cán bằng kim loại dài 47cm, phần lưỡi bằng kim loại, dài 44cm.
  • 01 (một) cây dao tự chế dài 68cm, phần cán bằng gỗ dài 28cm, phần lưỡi bằng kim loại, d ài 40cm.
  • 01 (một) cục gạch bên trong có lớp xi măng, kích thước 19x10cm.
  • 01 (một) nón bảo hiểm bị vỡ.
  • 01 (một) cây dao cán màu xanh kích thước 29x5cm.
  • 01 (một) cây dao không cán kích thước 27x4cm.
  • 01 (một) đôi dép có chữ Gucci.
  • 01 (một) nón kết, màu xám.
  • 01 (một) đôi dép tổ ong, màu trắng.
  • 01 (một) ống kim loại dài 01m.
  • 03 (ba) ống kim loại có nhánh, một ống kích thước 1,5 x 0,46m và hai ống kích thước 1,55 x 0,46m.
  • 02 (hai) file camera ghi lại hiện trường vụ án, có dung lượng 100,02MB và 143,47MB.

Đối với Huỳnh Văn T8, thừa nhận có mặt tại hiện trường nhưng chỉ đứng ngoài xem, không có tham gia. Đồng thời, qua làm việc các bị cáo không ai trình bày T8 có tham gia. Vì vậy, không đề cập xử lý đối với T8 trong vụ án.

Đối với Phan Quốc T9, quá trình làm việc với các bị cáo trong vụ án không ai trình bày T9 có tham gia. Đồng thời, T9 cũng không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra không thể mời làm việc được. Vì vậy, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm việc nếu có căn cứ, xử lý sau.

Đối với Lê Chí B, có mặt tại hiện trường nhưng không có tham gia. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trong vụ án.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 19/KLTTCT-TTPY ngày 22/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đoàn Hải K tại thời điểm giám định là 04% (bốn phần trăm). Vết thương do vật sắc nhọn gây ra.

Tại Bán kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 20/KLTTCT-TTPY ngày 22/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T (T) tại thời điểm giám định là 10% (mười phần trăm). Vết thương do vật sắc nhọn gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 33/KLTTCT-TTPY ngày 05/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Chi L1 tại thời điểm giám định là 21% (hai mươi mốt phần trăm). Vết thương do vật sắc nhọn gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 34/KLTTCT-TTPY ngày 05/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn V tại thời điểm giám định là 35% (ba mươi lăm phần trăm). Vết thương do vật sắc nhọn gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 21/KLTTCT-TTPY ngày 22/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh H xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hứa Thị M tại thời điểm giám định là 33% (ba mươi ba phần trăm). Vết thương do vật sắc nhọn gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 32/KLTTCT-TTPY ngày 05/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh H xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Chí C2 tại thời điểm giám định là 15% (mười lăm phần trăm). Vết thương do vật sắc nhọn gây ra.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hứa Thị M, Trần Văn V yêu cầu bồi thường, khắc phục hậu quả mỗi người với số tiền 3.000.000 đồng; các bị cáo Bùi Hữu N1 và Bùi Quốc T7 mỗi người nộp khắc phục hậu quả số tiền 2.000.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo các bị cáo Trần Văn V, Trần Văn T và Trần Thanh H phạm tội Cố ý gây thương tích.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn V 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời hạn đã bị bắt từ ngày 23/12/2023 đến ngày 09/8/2024 khi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo không kháng cáo; về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, bị cáo Trần Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 25 tháng 02 năm 2025, bị cáo Trần Thanh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 26 tháng 02 năm 2025, bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày quan điểm như sau:

Kháng cáo của bị cáo đúng theo quy định của pháp luật, đề nghị xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm căn cứ khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích, áp dụng mức hình phạt lần lượt đối với bị cáo Trần Văn V 02 năm 06 tháng tù; bị cáo Trần Văn T 03 năm 06 tháng tù; bị cáo Trần Thanh H 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo phạm tội nhưng không trực tiếp gây thương tích cho ai. Sau khi phạm tội đã thoả thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại xong. Tại phiên toà có cung cấp các tình tiết giảm nhẹ mới được chính quyền địa phương xác nhận, nên có căn cứ giảm thêm hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Buộc bị cáo Trần Văn T chấp hành hình phạt từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù; buộc các bị cáo Trần Văn V, Trần Thanh H chấp hành mức hình phạt 02 năm tù.

Trình bày lời bào chữa: Bị cáo không bào chữa.

Phát biểu đối đáp: không.

Nói lời sau cùng: Bị cáo Trần Văn T xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về gia đình để điều trị bệnh. Bị cáo Trần Văn V, Trần Thanh H xin giảm nhẹ hình phạt để sớm ra tù về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên chấp nhận xét đơn theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như quyết định của bản án sơ thẩm. Xét thừa nhận của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định: ngày 20/12/2023, các bị cáo Hứa Văn L, Hứa Thị M, Lê Chí C2, Trần Điền C, Bùi Quốc T7, Bùi Hữu N1, Dương Thanh D, Nguyễn Phạm Hoàng L2, Phạm Văn T4, Nguyễn Nhật T6, Trần Văn T5, Dư Thái A (gọi tắt nhóm của L) nhậu tại quán của L thuộc khu V, phường V, thành phố V. Nhóm của V gồm: Trần Văn V, Nguyễn Thành T3, Đoàn Hải K và Huỳnh Chi L1 nhậu tại quán của K tại bờ kè thuộc khu V, phường V, thành phố V.

Trong lúc nhậu L và V gọi điện thoại nói chuyện với nhau về vấn đề xảy ra mâu thuẫn trước đó và hẹn gặp nhau giải quyết mâu thuẫn. Sau khi tắt điện thoại, L kêu cả nhóm đang nhậu chung về nhà M là chị ruột L tại hẻm A thuộc khu V, phường V, thành phố V chuẩn bị hung khí dao tự chế. Phía nhóm V: V điện thoại cho Trần Thanh H biết sự việc, H gọi cho Trần Văn T, Phạm Chi L3 gọi cho C1 và P ra đi chung. Nhóm V gồm: C1, P, V, T, L3, K đi tìm nhóm L, khi đi P, C1, L3 mang theo dao tự chế.

Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của V đến hẻm A thì gặp nhóm của L đang ở nhà của M và C2 nên đi vào. Huỳnh Chi L1 (nhóm V) và Phạm Văn T4 (nhóm L) cầm dao tự chế xông lên chém nhau. V, Tâm B1, P, C1 cũng cầm dao tự chế xông vào tiếp L1. Lái, M, C2, C, T7, N1, D, L2, T6, A và Trần Văn T5 cũng cầm dao tự chế xông vào tiếp T5. Khi đó, H cũng vừa đến nên cũng nhặt cây dao ngay hiện trường xông lên tiếp V, K thì cầm dao đứng sau hỗ trợ.

Hậu quả: Lăng chém C2 thương tích phần đầu, L2 chém L1 thương tích phần đầu và tay, nên L1 được P đưa đi bệnh viện. Chí và Phạm Văn T4 về trước. Những người còn lại không ai chém gây thương tích cho ai. Hai bên chém nhau một lúc thì ngưng, đứng nói chuyện. Trong lúc hai bên đứng nói chuyện thì Trần Văn T (T sói) điều khiển xe một mình đến trên tay cầm theo một cây dao xông vào, nên bên phía L nghĩ là chém mình nên cũng cầm dao tự chế chém lại. Hai bên tiếp tục lao vào chém nhau một lúc thì ngưng và tự rút về.

Hậu quả: K bị Côn chém gây thương tích gây ngón tay; V bị chém gây thương tích ở cánh tay trái; M bị thương hai tay, T bị thương đầu nhưng không xác định được ai gây ra. Theo Kết luận giám định về thương tích của cơ quan chức năng Trần Văn V bị thương tích 35%, Phạm Chi L3 21%, Trần Văn T 10%, Đoàn Hải K 04%, Hứa Thị M bị thương tích 33% và Lê Chí C2 bị thương tích 15%.

[3]. Xét thấy, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao tự chế (là hung khí nguy hiểm) chém vào người khác, nhầm mục đích gây thương tích là vi phạm pháp luật, nhưng để thoả mãn sự bực tức của mình, cũng như để bênh vực đồng bọn khi có mâu thuẫn với nhóm khác và để thể hiện mình, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi. Với hành vi các bị cáo thực hiện, bản án sơ thẩm kết án các bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích với tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (nhưng thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt Bộ luật Hình sự) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội thể hiện tính cố ý, liều lĩnh, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Khi xét xử bản án sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thoả thuận bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; sau khi phạm tội có đến cơ quan chức năng đầu thú theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo V có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức điều khiển hành vi theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ. Cân nhắc mức hình phạt lần lượt cho Trần Văn T 03 năm 06 tháng tù, Trần Văn V 02 năm 06 tháng tù, Trần Thanh H 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ, tương xứng với hành vi. Các bị cáo T, V kháng cáo cung cấp thêm tài liệu chứng minh có thân nhân ông ngoại Trần Quang M1 là Liệt sĩ, bà ngoại Võ Thị N2 được Thủ tướng Chính phủ tặng Kỷ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị tù đài (có xác nhận của UBND phường V), có đóng góp hỗ trợ chính sách an sinh xã hội tại địa phương (có xác nhận của UBND phường V); bị cáo V có công phát hiện tố giác tội phạm ma tuý tại phường I, thành phố V (có xác nhận của Công an phường I). Bị cáo H cung cấp thêm tài liệu chứng minh có đóng góp hỗ trợ chính sách an sinh xã hội tại địa phương (có xác nhận của UBND phường V). Xét các bị cáo kháng cáo có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T, Vinh H4 sự việc xảy ra không trực tiếp gây thương tích cho ai bên nhóm đối lập. Ngược lại T, V là bị hại trong vụ án, V bị thương tích 35%, T bị thương tích 10%, 02 bị cáo là anh em ruột với nhau. Sau khi phạm tội các bị cáo đã đến cơ quan chức năng đầu thú, chứng tỏ đã biết ăn năn hối cải. Để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội biết nhìn nhận lỗi lầm, Toà chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt.

[5]. Với những nhận định như nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

[6]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm, do không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo không phải chịu, do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo ngày 20 tháng 02 năm 2025 của bị cáo Trần Văn V; kháng cáo ngày 25 tháng 02 năm 2025 của bị cáo Trần Thanh H; kháng cáo ngày 26 tháng 02 năm 2025 của bị cáo Trần Văn T, cả ba bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt. Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt như sau:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn V, Trần Thanh H phạm tội Cố ý gây thương tích.

- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điều 17, 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 21/12/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án, thời hạn tạm giam tính từ ngày 16/6/2025.

- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điều 17, 38; điểm b, s, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điều 17, 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời hạn đã bị bắt từ ngày 23/12/2023 đến ngày 09/8/2024 khi thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

Các bị cáo Trần Văn V, Trần Văn T, Trần Thanh H không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 16/6/2025.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
   
  Võ Thái Sơn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2025/HS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 61/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger