|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 6 - 2025 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.
Các Hội Thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Mỹ Linh
- Ông Nguyễn Văn Thơi
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Truyển Hân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2025, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoản phiên tòa số: 78/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trình Thị Thúy A, sinh năm: 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện P, Hậu Giang.
- Bị đơn: Ông Võ Thanh T, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp F, xã V, huyện L, Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Bà Trình Thị Thúy A (gọi tắt là bà Thúy A) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trình Thị Thúy A và ông Võ Thanh T tự nguyện tổ chức đám cưới và sống chung như vợ chồng với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang vào năm 2017.
Nguyên nhân mâu thuẩn: Vợ chồng ông bà thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống, tình cảm không thể hàn gắn được.
Về con chung: Có 01 cháu tên Võ Trình Thanh T1 (Nữ), sinh ngày: 26/7/2015, cháu T1 hiện đang sống chung với bà Thúy A. Khi ly hôn bà Thúy A yêu cầu được nuôi cháu T1, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, bà Thúy A không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, bà Thúy A không có yêu cầu gì thêm và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn ông Võ Thanh T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi lời khai cũng như tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng ông T vắng mặt nhiều lần không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của ông T về yêu cầu khởi kiện của bà Thúy A và không thể tiến hành tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn ông Võ Thanh T.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị các vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho bà Trình Thị Thúy A được ly hôn với bị đơn ông Võ Thanh T.
Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Trình Thanh T1 cho bà Thúy A tiếp tục nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Thúy A không yêu cầu. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục con cho ông T, không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Trình Thị Thúy A khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, yêu cầu nuôi con chung đối với bị đơn ông Võ Thanh T. Căn cứ theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn ông Võ Thanh T có địa chỉ cư trú tại ấp F, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Trình Thị Thúy A có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Võ Thanh T được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228; Điều 233 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Trình Thị Thúy A và bị đơn ông Võ Thanh T, nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho bà Thúy A và ông T theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trình Thị Thúy A hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Vào 2017 bà Thúy A và ông T tự nguyện kết hôn và có đăng kết hôn theo quy định nên hôn nhân của ông bà được xem là hợp pháp. Nay bà Thúy A cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, nên bà Thúy A yêu cầu được ly hôn với ông T. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có cơ sở xác định quan hệ tình cảm vợ chồng giữa bà Thúy A và ông T thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, Toà án đã triệu tập ông T nhiều lần để tiến hành hoà giải nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do. Từ đó cho thấy, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thúy A cho bà Thúy A và ông T được ly hôn.
[2.2]. Về con chung: có 01 con chung tên Võ Trình Thanh T1 (Nữ), sinh ngày 26/7/2015, cháu T1 hiện đang sống chung với bà Thúy A, được bà Thúy A chăm sóc tốt và cháu T1 có nguyện sống chung với bà Thúy A. Do đó để đảm bảo điều kiện phát triển tốt và đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu T1 nên hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Võ Trình Thanh T1 cho bà Thúy A tiếp tục nuôi dưỡng
là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ông Võ Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Bà Thúy A không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thúy A khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[2.4]. Từ những nhận định trên xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 233; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 14; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Trình Thị Thúy A đối với bị đơn ông Võ Thanh T. Cho bà Trình Thị Thúy A và ông Võ Thanh T được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Võ Trình Thanh T1 (Nữ), sinh ngày 26/7/2015 cho bà Trình Thị Thúy A tiếp tục nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Võ Thanh T không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng: Bà Trình Thị Thúy A không yêu cầu ông Võ Thanh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trình Thị Thúy A khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trình Thị Thúy A phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0010550 phiếu lập ngày 19/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Ngoan |
Bản án số 61/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn, yêu cầu nuôi con chung
- Số bản án: 61/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị A yêu cầu ly hôn với anh T
